Thiết kế 7 nguyên tắc đối với khu đô thị lấn biển
Sáng 22/8, Quốc hội thảo luận ở hội trường về nội dung cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị. Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn giải trình, làm rõ một số nội dung về vấn đề này.
Cho ý kiến tại hội trường, đa số đại biểu Quốc hội bày tỏ tán thành việc luật hóa cơ chế, chính sách đối với dự án khu đô thị lấn biển.
Phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm về nội dung cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, qua hơn 50 ý kiến phát biểu tại tổ và 11 lượt phát biểu tại hội trường, các ý kiến tập trung vào hai vấn đề lớn.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn. Ảnh: Media Quốc hội.
Thứ nhất, các đại biểu cơ bản thống nhất cần có cơ chế để triển khai hoạt động lấn biển xây dựng đô thị, qua đó hình thành những cực tăng trưởng mới, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030.
Thứ hai, nhiều đại biểu đặc biệt quan tâm đến yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, nhất là môi trường biển, cũng như quyền và lợi ích của người dân.
Trong quá trình hoàn thiện dự thảo, trên cơ sở ý kiến của các cơ quan thẩm tra, Bộ Tư pháp, các cơ quan liên quan, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội, cơ quan soạn thảo đã phối hợp với các cơ quan của Quốc hội rà soát, thiết kế lại quy định để đáp ứng đồng thời hai yêu cầu này.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, cơ quan soạn thảo đã thiết kế một điều luật riêng về dự án lấn biển xây dựng khu đô thị để tích hợp vào Luật Phát triển đô thị. Theo Bộ trưởng, điểm đặc thù đầu tiên của loại dự án này là hình thành một khu vực lấn biển chưa tồn tại trên thực tế để phát triển đô thị.
“Đây không chỉ đơn thuần là lấn biển để tạo quỹ đất mà hướng tới hình thành một khu đô thị mới trên biển, xanh, hiện đại, thông minh, mang tầm quốc gia, tạo ra một cực tăng trưởng mới, đủ sức hấp dẫn và thu hút các nhà đầu tư có tiềm lực”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Đặc thù thứ hai là các dự án có quy mô rất lớn, thời gian thực hiện dài và nhu cầu nguyên vật liệu phục vụ san lấp, xây dựng cũng rất lớn. Vì vậy, cơ chế áp dụng không thể hoàn toàn giống với các dự án đô thị thông thường.
Để đáp ứng các yêu cầu mà đại biểu Quốc hội đặt ra, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết dự thảo đã thiết kế 7 nguyên tắc áp dụng đối với khu đô thị lấn biển.
Theo đó, dự án phải phù hợp với quy hoạch; bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển; không cản trở hoạt động hàng hải. Việc quyết định dự án phải dựa trên đánh giá đầy đủ về điều kiện tự nhiên, hải văn, hệ sinh thái, tác động đến khu vực ven biển và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.
Các khu đô thị lấn biển phải được phát triển theo hướng hiện đại, xanh, thông minh; kết nối đồng bộ hạ tầng với đất liền; bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân; triển khai theo từng giai đoạn và gắn với trách nhiệm bảo vệ môi trường của nhà đầu tư. Bộ trưởng cũng cho biết, khu đô thị lấn biển không hình thành đơn vị hành chính mới và phải tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật Việt Nam cũng như Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.
Liên quan đến nhà đầu tư chiến lược, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết cơ quan soạn thảo đã tiếp thu ý kiến đại biểu theo hướng quy định các điều kiện, tiêu chí và giao Thủ tướng Chính phủ quyết định để bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn giải trình, làm rõ một số vấn đề về nội dung cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị. Ảnh: Media Quốc hội.
Dự thảo đồng thời quy định chặt chẽ việc chuyển nhượng dự án. Theo đó, nhà đầu tư được chuyển nhượng không quá 50% phần dự án đã có đầy đủ hạ tầng. Quy định này vừa nhằm gắn trách nhiệm của nhà đầu tư với dự án, vừa tạo điều kiện để huy động nguồn lực, bảo đảm dự án được triển khai thông suốt.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết các dự án được thiết kế cơ chế áp dụng có quy mô rất lớn, từ 100.000 tỷ đồng đến 200.000 tỷ đồng và trên 200.000 tỷ đồng, tương đương mức đầu tư tối thiểu khoảng 4 tỷ USD. “Việc huy động vốn cho những dự án như vậy rất khó khăn, nên chúng ta phải có cơ chế, chính sách đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư có tiềm lực, vừa có vốn, vừa có kinh nghiệm quản lý, đủ năng lực từ xây dựng đến tổ chức vận hành, quản lý dự án”, Bộ trưởng nói.
Bộ trưởng Bộ Tài chính cũng khẳng định cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục nghiêm túc tiếp thu các ý kiến của đại biểu Quốc hội, bảo đảm quy định sau khi được tích hợp vào luật có tính khả thi, đồng thời đáp ứng đầy đủ yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường biển, quyền lợi của người dân và hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư.
