Thấu hiểu và đồng hành
Theo PGS.TS. NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG, Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam, trong bối cảnh hiện nay, các cơ chế, chính sách và hoạt động thúc đẩy bảo hộ, khai thác quyền sở hữu trí tuệ được xem là cốt lõi, tác động mạnh mẽ đến thực hiện các mục tiêu cụ thể của Chiến lược phát triển văn hóa, Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam.
Khó khăn nhất là thói quen
- Từ nghiên cứu của Dự án "Củng cố việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam", xin bà cho biết đâu là nguyên nhân căn bản của tình trạng xâm phạm thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực văn hóa, sáng tạo ở nước ta?
- Nguyên nhân đầu tiên đến từ nhận thức, tiếp đó là các nguồn lực cho hoạt động thực thi ở khu vực công chưa bảo đảm, trong khi khu vực tư chưa chú trọng và có cơ chế hoạt động hiệu quả. Thực tế, sở hữu trí tuệ ở các lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp rất rõ ràng, nhưng văn hóa, sáng tạo là một lĩnh vực có tính phức tạp, khó được thể hiện một cách rõ ràng.

PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Phương
- Theo bà, đâu là khó khăn, rào cản lớn nhất đối với việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay?
- Khó khăn nhất là thói quen, tập quán, không coi đấy là vi phạm. Vấn đề thứ hai thuộc về phạm trù đạo đức và sự lựa chọn. Ví dụ, chọn một cuốn sách không phải sách lậu chẳng hạn sẽ có giá cao hơn rất nhiều so với việc đi photo, hoặc là mua bộ quần áo đúng thương hiệu có thể phải bỏ ra số tiền lớn hơn nhiều lần hàng nhái… Mỗi người đều đứng trước ranh giới mong manh, mà nếu vi phạm quyền sở hữu trí tuệ vô hình trung đã đẩy những người sáng tạo vào chân tường, thậm chí khiến họ mất đi động lực làm việc, khát vọng cống hiến.
- Bà đánh giá kết quả lớn nhất mà Dự án Củng cố việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam đạt được là gì?
- Rất nhiều giá trị được lan tỏa thông qua hoạt động nghiên cứu, đánh giá, hội thảo, tập huấn và workshop… Việc củng cố quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam đã thực sự được quan tâm từ những người làm công tác quản lý nhà nước, nghệ sĩ, người thực hành văn hóa, cũng như doanh nghiệp, truyền thông…
Quá trình triển khai Dự án cũng là sự trưởng thành của Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam trong lĩnh vực này. Chúng tôi được sự phối hợp rất trách nhiệm của các đơn vị chuyên môn như Cục Bản quyền tác giả, Cục Hợp tác quốc tế của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Văn phòng UNESCO tại Paris, tại Hà Nội; các chuyên gia trong nước và quốc tế, đặc biệt chuyên gia của Philiipines, một nước ở Đông Nam Á cũng phải đối mặt với rất nhiều vấn đề liên quan đến thực thi quyền sở hữu trí tuệ… Lần đầu tiên chúng ta có một bầu không khí như vậy, các chủ thể đồng hành trên tinh thần hợp tác, chia sẻ để củng cố việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.
Văn minh, hiểu biết và chia sẻ
- Đáng chú ý, Dự án nhận được nhiều sự quan tâm từ thế hệ trẻ - những người nhận thức rõ nhất các ngành công nghiệp văn hóa chỉ có thể phát triển khi được bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ...?
- Đúng vậy. Trong khuôn khổ Dự án, các bạn trẻ được tiếp xúc với chủ thể sáng tạo ra sản phẩm, dịch vụ văn hóa, trao đổi, tiếp cận với những không gian sáng tạo, cảm nhận vẻ đẹp đến từ văn hóa sáng tạo… từ đó thúc đẩy ý thức về thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Như tôi đã nói, ở Việt Nam, các vấn đề về thói quen, nhận thức dẫn đến vô tình chúng ta vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Vì vậy, nâng cao ý thức thực thi quyền sở hữu trí tuệ, bắt đầu từ người trẻ là điều thực sự quan trọng.

Thực thi quyền sở hữu trí tuệ sẽ đóng góp vào sự phát triển bền vững của các ngành công nghiệp văn hóa. Ảnh: Tuấn Đức
Các nhà sáng tạo trẻ cũng có chuyển biến tích cực khi giờ đây họ dám đứng lên để nói ra việc bị xâm phạm bản quyền, không ngại ngần và quyết tâm để thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
- Muốn hiện thực hóa mục tiêu của Chiến lược phát triển văn hóa, Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam, cần thúc đẩy song song bảo vệ và nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Bà nhận định ra sao về ý kiến này?
- Theo tôi, đó không phải song song mà là đồng hành, nắm tay nhau cùng đi. Ở đây liên quan đến khái niệm các ngành công nghiệp văn hóa là được bảo hộ về bản quyền. Chỉ khi nào việc thực thi bản quyền ở Việt Nam được bảo đảm thì các ngành công nghiệp văn hóa mới được bảo hộ, bảo vệ để có thể phát triển thực sự.
- Dự án Củng cố việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam đã đi vào giai đoạn tổng kết. Câu chuyện sở hữu trí tuệ ở Việt Nam còn nhiều vấn đề đặt ra. Vậy bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong ngành văn hóa, sáng tạo tới đây cần được thúc đẩy như thế nào?
- Có lẽ, chúng ta nên quan tâm đến hiệu quả thực tiễn, bám theo lộ trình cụ thể với tinh thần văn minh, hiểu biết và chia sẻ. Quan trọng là thay đổi về nhận thức. Vì vậy tôi mong muốn những dự án như thế này sẽ được quan tâm, đầu tư nguồn lực tài chính, triển khai rộng rãi tại các đơn vị nghiên cứu, trường học... Về phía cơ quan quản lý, cần tăng cường tuyên truyền về quyền sở hữu trí tuệ, cũng như thúc đẩy sự tham gia, phối hợp của các chuyên gia, tổ chức trong nước và quốc tế, từ đó có những hoạt động mang lại thay đổi tích cực trong bảo vệ, khai thác quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực văn hóa, sáng tạo.
Những năm qua, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã giảm nhưng vẫn diễn ra với nhiều cách thức phức tạp, ảnh hưởng đến chủ sở hữu tài sản trí tuệ. Tôi cho rằng thực trạng sở hữu trí tuệ ở Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển tiếp, nghĩa là từ vi phạm rất nhiều sang bắt đầu có ý thức nhưng chưa đến mức bảo đảm tốt quyền sở hữu trí tuệ. Giai đoạn chuyển tiếp này rất quan trọng, nếu quyết liệt, đồng lòng sẽ nhanh chóng bước sang giai đoạn tiếp theo, đóng góp vào sự phát triển bền vững của các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo nước nhà.
- Xin cảm ơn bà!
Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/van-hoa-van-nghe/thau-hieu-va-dong-hanh-i321428/
