Tháo gỡ khó khăn, bất cập trong đăng ký nuôi con nuôi
Theo Sở Tư pháp, 9 tháng của năm 2021, toàn tỉnh có 35 trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi... được nhận làm con nuôi trong nước. Việc giải quyết cho nhận con nuôi trong nước được các địa phương thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Giáo viên và bảo mẫu Trung tâm Công tác xã hội tỉnh (Sở LĐ-TBXH) chăm sóc một trẻ mồ côi. Ảnh minh họa: Tố Tâm
* Điều kiện để được nhận con nuôi trong nước
Từ ngày được cha mẹ nhận làm con nuôi và cho ăn học, em P.V.T. (9 tuổi, ngụ H.Cẩm Mỹ) có điều kiện phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần. Anh P.V.P. (cha nuôi của em P.V.T.) tâm sự, vợ chồng anh hiếm muộn, chữa trị nhiều năm liền không có con nên có nguyện vọng đăng ký nuôi một trẻ mồ côi; giúp con được chăm lo đầy đủ, có cuộc sống tốt đẹp hơn. Rất may, nhờ sự hỗ trợ của các cơ quan liên quan, vợ chồng anh đã đạt được nguyện vọng của mình.
Ông TRẦN TRUNG NHÂN, Trưởng phòng Hành chính, bổ trợ tư pháp (Sở Tư pháp) bày tỏ, việc tìm gia đình thay thế cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở trong nước gặp nhiều khó khăn vì nhu cầu nhận nuôi con nuôi trong nước đều mong muốn nhận nuôi những đứa trẻ khỏe mạnh, có lựa chọn giới tính và có tâm lý ngại nhận nuôi trẻ ốm đau, bệnh tật. Đồng thời, vẫn còn xảy ra một số trường hợp cha, mẹ nuôi sau khi nhận con nuôi không thực hiện thông báo cho UBND cấp xã nơi thường trú của trẻ về tình hình phát triển của con nuôi.
Hạnh phúc của em P.V.T. cũng là hạnh phúc của 124 trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi (từ năm 2020 đến 30-9-2021) trên địa bàn tỉnh khi tìm được cha mẹ nuôi theo Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Theo Sở Tư pháp, thông qua việc giải quyết nuôi con nuôi trong nước giúp nhiều trẻ mồ côi, bị bỏ rơi tìm được mái ấm thay thế; nhiều người, đặc biệt là phụ nữ đơn thân, các cặp vợ chồng hiếm muộn được thực hiện quyền làm cha mẹ.
Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định trường hợp cụ thể điều kiện để được nhận con nuôi trong nước như: cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi; Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước là thứ tự ưu tiên trong việc lựa chọn gia đình thay thế cho trẻ. Trường hợp có nhiều người cùng hàng ưu tiên xin nhận một người làm con nuôi thì xem xét, giải quyết cho người có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con nuôi tốt nhất.
Ông Trần Trung Nhân, Trưởng phòng Hành chính, bổ trợ tư pháp (Sở Tư pháp) cho biết, người nhận con nuôi trong nước phải có đủ các điều kiện sau: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; có tư cách đạo đức tốt. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không cần điều kiện hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên và có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi.
* Vẫn còn những khó khăn, bất cập
Ông Trần Trung Nhân cho biết, qua hơn 10 năm triển khai thi hành Luật Nuôi con nuôi năm 2010, nhiều địa phương và người nhận nuôi con nuôi cho rằng, vẫn còn nhiều khó khăn trong công tác đăng ký nuôi con nuôi trong nước. Chẳng hạn như: việc quy định bắt buộc phải có giấy khám sức khỏe của trẻ em trong hồ sơ nuôi con nuôi trong nước là không cần thiết. Bởi vì, cha mẹ nuôi Việt Nam thường tiếp xúc và tìm hiểu về trẻ em trước khi nhận nuôi nên cha mẹ nuôi cũng đã biết trước tình trạng sức khỏe của trẻ mà mình mong muốn nhận nuôi.
Đồng thời, theo quy định, thủ tục hành chính yêu cầu phải nộp phiếu lý lịch tư pháp trong thành phần hồ sơ của người nhận con nuôi trong mọi trường hợp, kể cả cha dượng, mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi, như vậy là chưa phù hợp. Vì thực tế trẻ vẫn về ở với cha hoặc mẹ đẻ và cha dượng hoặc mẹ kế cho dù có thực hiện việc đăng ký hay không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, nếu thủ tục hành chính quá rườm rà có thể dẫn tới việc không đăng ký, làm cho quyền, lợi ích của trẻ không đảm bảo.
Luật gia Lê Văn Nhân (Hội Luật gia tỉnh) cho hay, Điểm b, Khoản 2, Điều 15, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định, trường hợp trẻ em mồ côi không có người nuôi dưỡng hoặc trẻ em có cha mẹ đẻ, người thân thích nhưng không có khả năng nuôi dưỡng thì người giám hộ, cha mẹ đẻ, người thân thích có trách nhiệm báo cáo UBND cấp xã nơi trẻ em thường trú tìm gia đình thay thế cho trẻ em. UBND cấp xã có trách nhiệm hỗ trợ nuôi dưỡng trẻ em và thông báo, niêm yết tại trụ sở UBND trong thời hạn 60 ngày để tìm người nhận trẻ em làm con nuôi; nếu có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì UBND cấp xã xem xét, giải quyết. Hết thời hạn thông báo, niêm yết, nếu không có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì UBND cấp xã lập hồ sơ đưa trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng.
“Vì luật quy định như vậy nên các địa phương lúng túng khi không có cơ sở để xác định thế nào là “không có khả năng nuôi dưỡng” nên hầu như không có trẻ em nào được tìm gia đình thay thế đối với những trường hợp như vậy” - luật gia Lê Văn Nhân nói.
Cũng theo luật gia Lê Văn Nhân, một bất cập nữa là tại Điểm d, Khoản 1, Điều 18 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định, hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước trong trường hợp trẻ bị bỏ rơi được nhận làm con nuôi phải có biên bản xác nhận trẻ em bị bỏ rơi là không cần thiết. Vì theo quy định tại Điều 16, Luật Hộ tịch năm 2014, khi đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi thì thành phần hồ sơ đăng ký cần có biên bản xác nhận trẻ em bị bỏ rơi rồi. Đồng thời, trong hồ sơ của trẻ em được nhận làm con nuôi đã có giấy khai sinh và giấy khai sinh thể hiện rõ là trẻ bị bỏ rơi.











