Quyển sổ tang kể chuyện người anh hùng

Năm 2024, tôi thực hiện loạt bài 'Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) - Những điều ít biết' đăng trên báo in Cà Mau (ngày 29-30/4 và 1/5/2024) và Cà Mau Online. Ngoài chiến công đặc biệt dùng máy bay MiG-17 ném bom làm thiệt hại tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 của Mỹ trên vùng biển Quảng Bình (bằng kỹ thuật 'ném bom thát lát', được xem độc nhất trong lịch sử không chiến Việt Nam và thế giới), bài viết còn đề cập về gia đình, quá trình học tập, chiến đấu và quỹ học bổng mang tên ông.

Sau khi bài đăng, gia đình kể thêm về khoảnh khắc ông hy sinh và hành trình gian truân tìm kiếm thi thể cùng xác máy bay rơi. Câu chuyện ấy cứ canh cánh lòng, thôi thúc tôi tìm hiểu thêm, để bổ sung những mảnh ghép còn thiếu về cuộc đời người anh hùng của quê hương.

Ông Nguyễn Anh Sơn (anh ruột Anh hùng Nguyễn Văn Bảy (B), ngụ tại Khu Dân cư phường Tân Xuyên) cẩn thận mang ra quyển album khá dày, bên trong lồng rất nhiều hình ảnh, tư liệu. Ông khẽ khàng nói: “Ðây là quyển sổ tang, toàn bộ thông tin về Bảy (B) nằm trong này”.

Hy sinh anh dũng và cuộc tìm kiếm thi thể giữa lòng núi thẳm

Sau trận đánh gây thiệt hại tàu khu trục Mỹ, ngày 6/5/1972, biên đội MiG-17 gồm phi công Nguyễn Văn Lục và Nguyễn Văn Bảy (B) lại cất cánh đánh chặn tốp 24 máy bay cường kích của Mỹ trên bầu trời Thanh Hóa, ngăn chúng thực hiện các đợt oanh kích miền Bắc.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy (B). (Ảnh chụp lại từ quyển sổ tang)

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy (B). (Ảnh chụp lại từ quyển sổ tang)

Phi công Nguyễn Văn Lục kể lại: “Sau khi Bảy (B) bắn hạ 1 chiếc A6, tôi bắn rơi 1 chiếc đang tìm lối thoát. Khi được lệnh giữ nguyên độ cao, nhìn lên trên, Bảy (B) phát hiện 1 chiếc đang đè tôi, Bảy (B) cơ động vọt lên và đè lại thằng này. Không ngờ lại 1 thằng nữa đè Bảy (B). Hai chúng tôi quần nhau với mấy mươi chiếc máy bay của địch và thế là máy bay của Bảy (B) bị trúng đạn...”.

Ông Lò Quốc Tôn (nguyên dân quân xã Tân Thành, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa) vẫn vẹn nguyên ký ức ngày ấy. Ông kể, sau khi máy bay rơi, đơn vị không quân phối hợp Binh đoàn 559 và chính quyền địa phương thành lập đội tìm kiếm khẩn cấp, có ông tham gia.

Ông nghe nói, trong khoảnh khắc cuối cùng, phi công Nguyễn Văn Bảy (B) đã cố điều khiển chiếc máy bay đang bốc cháy ngoặt sang hướng khác, từ vùng trời huyện Bá Thước lao xuống ngọn núi Pu Ví, xã Tân Thành, huyện Thường Xuân, tránh xa bản làng đồng bào dân tộc và kho hàng của Bộ Quốc phòng. Chi tiết này dù không thấy tài liệu ghi lại, nhưng dựa trên bản tính kiên cường, dũng cảm, trách nhiệm mà bạn bè, đồng đội kể lại về Nguyễn Văn Bảy (B), tôi tin là có thật. Ðó là lựa chọn cuối cùng đầy nhân văn và cao cả của người phi công.

Pu Ví là ngọn núi cao, hiểm trở nằm dọc dãy Trường Sơn. Phải mất gần một tuần càn rừng tìm kiếm, lực lượng làm nhiệm vụ mới tiếp cận được hiện trường. Trước mắt họ, đầu chiếc máy bay cắm sâu vào sườn núi, chỉ còn lộ phần đuôi. Cây rừng cháy loang lổ, khói vẫn còn âm ỉ, hơi nóng tỏa ra hầm hập. Thêm 2 ngày liên tục tưới nước làm nguội, việc đào bới mới được tiến hành.

Ðất đá bị sức nóng nung cứng, lực lượng hì hục vừa đào vừa tưới nước, rất vất vả. Khi nắp ca-bin lộ ra, thì phát hiện đầu máy bay lệch sang một hướng. Khẩn trương lau chùi lớp đất bám trên kính, họ vỡ òa nhận ra phi công Nguyễn Văn Bảy (B) vẫn còn ngồi nguyên trên ghế lái. Nhưng điều hết sức bất ngờ, khi tấm kính ca-bin vừa được phá vỡ, không khí tràn vào, hình hài ấy từ từ sụp xuống, hóa thành tro. Tất cả đều chết lặng.

Những gì thu được chỉ là một phần xương sọ, vài đoạn xương ống, ít xương vụn và một vốc tro. Lễ an táng được tổ chức trang trọng. Mộ ông nằm tại Nghĩa trang Lê Lai, dưới chân một ngọn núi của huyện Thường Xuân. Sau này hài cốt được di dời về Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Quảng Xương (Thanh Hóa), trước khi được đưa về an nghỉ tại quê nhà Cà Mau.

Quyển sổ tang và nghĩa tình người thân, đồng đội

Ðầu tháng 7/1972, sau gần 2 tháng em trai hy sinh, ông Nguyễn Năm (anh thứ Năm, công tác ở Ban Dầu khí, thuộc Tổng cục Hóa chất) mới hay tin. Ông xin nghỉ phép, lặn lội vào Thanh Hóa tìm thăm mộ em.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy (B) (bên phải) chụp ảnh cùng đồng đội tại Trường Không quân Kusov ở Ắc-ta-ri, Liên Xô năm 1965-1968. (Ảnh chụp lại từ quyển sổ tang)

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy (B) (bên phải) chụp ảnh cùng đồng đội tại Trường Không quân Kusov ở Ắc-ta-ri, Liên Xô năm 1965-1968. (Ảnh chụp lại từ quyển sổ tang)

Chuyến đi kéo dài 64 ngày đêm. Ông phải băng rừng, vượt đèo núi, chịu đói khát, thậm chí còn bị nghi là gián điệp và bị quản thúc vì những cảnh giác khắt khe trong thời chiến. Cuối cùng, ông cũng chạm được vào mộ em, thắp nén nhang đầu tiên trong nỗi đau tột độ.

Sau ngày đất nước thống nhất, gia đình trở về miền Nam, để lại phần mộ Nguyễn Văn Bảy (B) nơi đất khách trong nỗi niềm day dứt. Bằng nhiều nỗ lực của gia đình và đặc biệt là sự hỗ trợ của Quân chủng Phòng không - Không quân và những đồng đội cũ, đến năm 2002, hài cốt của Anh hùng Nguyễn Văn Bảy (B) được đưa về an nghỉ tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Cà Mau, khép lại hành trình 30 năm nằm nơi đất khách và 48 năm xa rời quê hương xứ sở.

Nhẹ nhàng lật từng trang sổ tang, ông Sơn diễn giải, trang này là tuổi thơ, trang kia là trận đánh, rồi những bức thư bạn bè thời đi học, những tấm ảnh, những lời kể từ đồng đội...

Ông xúc động chia sẻ: “Tất cả là nhờ công ông Nguyễn Năm”. Sau ngày đưa hài cốt em trai về lại quê nhà, ông Năm đã cất công tìm gặp những người từng sống, chiến đấu cùng Nguyễn Văn Bảy (B); trở lại các đơn vị không quân; lặn lội lên tận vùng núi Thanh Hóa gặp những người từng tham gia tìm kiếm chiếc máy bay năm ấy; tìm người nhiều năm hương khói bên phần mộ liệt sĩ... Mỗi cuộc gặp là một mảnh ghép, bổ sung vào cuộc đời người em mà ông và các thành viên gia đình chưa có điều kiện gần và hiểu hết.

Khi mộ phần được an táng tại quê nhà, Ðài Phát thanh - Truyền hình Cà Mau (cũ) (phóng viên Minh Chính, Hoàng Sấy) đã tìm đến gia đình nhờ hỗ trợ thực hiện phim tài liệu về Nguyễn Văn Bảy (B). Chính ông Năm là cầu nối với Câu lạc bộ Không quân phía Nam và các đồng đội cũ của em trai. Những lời phát biểu, những buổi tọa đàm, ông Năm đều ghi âm và được chép lại, gửi từng người đọc, chỉnh sửa, xác nhận. Nhờ sự cẩn trọng ấy, nhiều trận đánh, nhiều câu chuyện về Nguyễn Văn Bảy (B) được tái hiện đầy đủ hơn, trở thành những tư liệu quý mà ngay cả gia đình trước đó cũng chưa từng biết.

Kết nối điện thoại với ông Nguyễn Năm (87 tuổi, hiện ngụ tại Thành phố Hồ Chí Minh), ông rất xúc động về câu chuyện này. "Nếu không có sự giúp đỡ của Quân chủng Phòng không - Không quân, của những đồng đội cũ thì gia đình rất khó có thông tin đầy đủ về Bảy (B), cũng như đưa được em về Cà Mau. Nghĩa tình ấy, gia đình tôi suốt đời ghi nhớ", ông bày tỏ.

Quyển sổ vì thế còn lưu giữ nhiều lá thư cảm ơn chân thành gửi đến tổ chức, cá nhân đã giúp đỡ gia đình. Xen giữa các trang là những bức ảnh ghi lại hành trình cải táng, lễ truy điệu, đưa hài cốt Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy (B) về quê nhà, lời cảm tưởng và phút tiễn biệt đầy xúc động của đồng đội.

Có một bức ảnh, ông Sơn dừng lại khá lâu. Ðó là hình Ðại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Bảy (A) đứng đọc điếu văn tiễn biệt người đồng đội cùng tên, cùng họ về yên nghỉ trong lòng đất mẹ. Khoảnh khắc ấy thật đẹp, thật xúc động về nghĩa thủy chung của tình đồng đội.

Ðiều đặc biệt, quyển sổ không chỉ lưu tư liệu, mà còn có 1.240 câu thơ do chính ông Nguyễn Năm sáng tác kể về cuộc đời em mình. Ðó không phải những vần thơ cầu kỳ, mà là tiếng lòng của một người anh viết bằng ký ức và nước mắt. Theo tôi, đây là một truyện thơ hoàn chỉnh, có thể in thành sách làm tài liệu tuyên truyền trong thanh niên, cũng như phục vụ các giờ ngoại khóa về lịch sử địa phương, để thế hệ trẻ có thêm hiểu biết và tự hào về truyền thống quê nhà.

Ðó là lời thốt lên quặn thắt khi chứng kiến phần hài cốt ít ỏi của em trong lần bốc mộ:

"Hình hài cha mẹ cho ta

Qua cơn binh lửa đã ra thế này..."

Là nỗi xót xa của tình máu mủ:

"Thương em biết mấy cho vừa

Thân hình tráng kiện ngày xưa đâu rồi..."

Giữa những mất mát ấy vẫn lấp lánh niềm tự hào:

"Tuổi xuân dâng trọn non sông

Ngày mai Tổ quốc hóa rồng bay cao..."

Và những câu thơ nghẹn lòng về người mẹ:

"Năm bảy hai mùa thu dậy sóng

Ðón con về tờ giấy trên tay

Lá vàng còn ở trên cây

Khóc chồng khi trẻ, thu này khóc con..."

Ðây không chỉ là nỗi đau riêng một gia đình, mà còn là nỗi đau của biết bao bà mẹ Việt Nam đã tiễn chồng, tiễn con ra trận, rồi lặng lẽ sống hết phần đời còn lại trong thấp thỏm đợi chờ, thương nhớ...

Khép lại hơn 230 trang quyển sổ tang, ông Sơn bồi hồi trong im lặng. Với người tiếp cận, đây không chỉ là tư liệu quý, mà còn là biểu tượng đẹp, thiêng liêng của tình đồng đội, tình máu mủ ruột rà.

Lịch sử không chỉ nằm ở những trang sách, mà còn trong cách chúng ta nâng niu ký ức về người đã khuất. Gìn giữ và kể lại câu chuyện của Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B), cũng là cách để tri ân, để những giá trị cao đẹp ấy tiếp tục được trao truyền, để ngọn lửa anh hùng mãi luôn soi sángu

Trang Thăm

Nguồn Cà Mau: https://baocamau.vn/quyen-so-tang-ke-chuyen-nguoi-anh-hung-a130482.html