PVN thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, phát triển biển bền vững

PVN đang trở thành điểm sáng trong thực hiện chính sách môi trường, kinh tế tuần hoàn, thúc đẩy kinh tế biển thông qua các hoạt động dầu khí ngoài khơi.

Tiên phong thực hiện chính sách môi trường, phát triển kinh tế biển

Báo cáo của Đoàn Giám sát của Quốc hội về việc thực hiện chính sách pháp luật kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cho thấy, Tập đoàn Công nghiệp Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam – PVN) đang là một trong những doanh nghiệp nhà nước đi đầu trong bảo vệ môi trường, chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tuần hoàn.

Với vai trò nòng cốt trong ngành năng lượng và là lực lượng chủ lực trong kinh tế biển, PVN vận hành hàng loạt dự án thăm dò, khai thác dầu khí ngoài khơi, lọc hóa dầu, công nghiệp khí, sản xuất điện và dịch vụ kỹ thuật trên biển.

PVN tiên phong trong phát triển kinh tế biển xanh theo hướng kinh tế tuần hoàn. Ảnh: Phương Đông.

PVN tiên phong trong phát triển kinh tế biển xanh theo hướng kinh tế tuần hoàn. Ảnh: Phương Đông.

Trong bối cảnh Việt Nam cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, đồng thời triển khai Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030 (Nghị quyết 36-NQ/TW), PVN xác định bảo vệ môi trường và sử dụng tối ưu tài nguyên biển là yêu cầu bắt buộc trong toàn bộ hoạt động sản xuất – kinh doanh. Tập đoàn coi công tác an toàn – sức khỏe – môi trường là trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu và là tiêu chí đánh giá quan trọng đối với mọi đơn vị thành viên.

Hệ thống quản lý môi trường của PVN được kiện toàn đồng bộ từ Công ty Mẹ đến các đơn vị thành viên với Ban An toàn Môi trường & Phát triển bền vững làm đầu mối. Không chỉ dừng ở an toàn và quản lý rủi ro, nhiệm vụ của bộ máy còn mở rộng sang chuyển dịch năng lượng, thích ứng biến đổi khí hậu, thực thi ESG và phát triển kinh tế tuần hoàn.

PVN thực hiện nghiêm các quy định cốt lõi của Luật Bảo vệ môi trường 2020, coi đây là “khung an toàn” phát triển kinh tế biển bền vững. Tất cả dự án đều có đầy đủ hồ sơ môi trường gồm: báo cáo đánh giá tác động môi trường, đăng ký môi trường, giấy phép môi trường, kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu và hóa chất, kế hoạch kiểm soát chất thải…

Tập đoàn chủ động cập nhật và hướng dẫn các đơn vị thực hiện đúng các nghị định, thông tư liên quan như Nghị định 06/2022/NĐ-CP về giảm phát thải khí nhà kính; Thông tư 02/2022 và Thông tư 07/2025 về quản lý dung dịch khoan – mùn khoan trên biển; quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 35:2024 và QCVN 36:2024 về nước khai thác và chất thải khoan từ công trình dầu khí ngoài khơi.

Đối với khí thải công nghiệp, PVN vận hành hệ thống xử lý tiên tiến nhất như: Lọc bụi tĩnh điện (ESD); Khử SOx bằng đá vôi hoặc nước biển (FGD); Khử NOx bằng xúc tác chọn lọc (SCR).

Tất cả dữ liệu quan trắc khí thải, nước thải đều được kết nối trực tuyến với cơ quan quản lý môi trường tại địa phương theo đúng Nghị định 08/2022/NĐ-CP, đảm bảo minh bạch và kiểm soát liên tục.

Năm 2024, PVN ghi nhận 216,6 tỷ m³ khí thải từ các cơ sở sản xuất, chủ yếu từ các nhà máy điện than; 54.272 tấn NOx và 10.359 tấn SOx, đều nằm trong giới hạn các QCVN nhờ áp dụng công nghệ xử lý hiện đại.

Tổng phát thải khí nhà kính phạm vi 1 đạt 33,15 triệu tấn CO₂tđ, PVN đã xây dựng kế hoạch giảm phát thải theo Nghị định 06/2022.

Về nước thải, tổng lưu lượng năm 2024 là 3.019 triệu m³, trong đó nước làm mát chiếm phần lớn. Nước khai thác từ các mỏ ngoài khơi được xử lý hai bậc để hàm lượng dầu luôn dưới 40 mg/l; nước thải công nghiệp, sinh hoạt được xử lý đạt QCVN 40:2011 và QCVN 14:2008.

Tro xỉ tại các nhà máy điện được tái sử dụng gần 100% làm vật liệu xây dựng, một trong những mô hình kinh tế tuần hoàn tiêu biểu của PVN.

Động lực then chốt của chuyển đổi xanh trong kinh tế biển

Dù khái niệm kinh tế tuần hoàn mới được luật hóa từ năm 2020, PVN đã triển khai mô hình này từ nhiều năm trước, đặc biệt trong xử lý tro xỉ, tái sử dụng nước thải và tối ưu tài nguyên khí.

Trong chuỗi giá trị dầu khí, Tập đoàn ưu tiên 3 trụ cột: giảm thiểu – tái sử dụng – tái chế. Thứ nhất, tro xỉ từ các nhà máy điện Vũng Áng 1, Sông Hậu 1, Thái Bình 2 được tái sử dụng gần như tuyệt đối để sản xuất xi măng, gạch không nung và làm vật liệu san lấp.

Thứ hai, các nhà máy điện Cà Mau áp dụng vòng tuần hoàn nước làm mát khép kín và tái sử dụng nước thải đã xử lý cho vận chuyển tro, xỉ, giảm đáng kể khai thác nước tự nhiên.

Thứ ba, trong lĩnh vực khí - dầu khí, PVN là một trong số ít tập đoàn trên thế giới giảm tỷ lệ đốt bỏ khí đồng hành xuống chỉ còn ~0,14% tổng sản lượng, nhờ các dự án thu gom khí Nam Côn Sơn, Rạng Đông… được xem là chỉ số vượt trội so với nhiều quốc gia dầu khí.

Thứ tư, nâng cấp sản phẩm xăng dầu theo tiêu chuẩn EURO 3 - 5 và phát triển xăng sinh học E5, ethanol, phân bón xanh (N46.Plus, Ure Bio) góp phần quan trọng giảm phát thải.

Ngoài ra, PVN đang đầu tư mạnh mẽ vào các công nghệ mới cho kinh tế tuần hoàn carbon như thu hồi và lưu trữ cacbon (CCS). Hiện, tập đoàn đang hợp tác với JOGMEC (Nhật Bản) để triển khai các nghiên cứu chung về CCS, cũng như nghiên cứu khả năng sản xuất hydro và amoniac. Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cũng hỗ trợ PVN nghiên cứu đánh giá tiềm năng ứng dụng công nghệ CCS tại khu vực mỏ Tiền Hải - Thái Bình.

Về Hydro và Ammo nia, Tổng công ty Khí Việt Nam (PVGas) đang xúc tiến việc lập Dự án thử nghiệm sản xuất, vận chuyển và phân phối Green Hydrogen (GH2), với sự hỗ trợ kỹ thuật từ GIZ và NEDO.

Giàn C10 Vietsopetro. Ảnh minh họa.

Giàn C10 Vietsopetro. Ảnh minh họa.

Việc kinh doanh tín chỉ cacbon và tín chỉ năng lượng tái tạo cũng đã mở ra tiềm năng kinh doanh mới, thể hiện qua việc các nhà máy thủy điện Hủa Na và Đakring đã bán thành công 816.337 tín chỉ năng lượng tái tạo trong năm 2024.

Hiện, PVN đang phải đối mặt với nhiều thách thức đáng kể từ góc độ tuân thủ pháp lý và tối ưu hóa vận hành, ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược phát triển bền vững của tập đoàn.

Một thách thức quan trọng là áp lực từ việc siết chặt các quy định pháp luật. Các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường ngày càng trở nên nghiêm ngặt hơn, cùng với yêu cầu cấp bách về giảm phát thải nhằm đáp ứng cam kết Net Zero quốc gia. Điều này đòi hỏi PVN phải đầu tư quy mô lớn vào việc áp dụng và nâng cấp các công nghệ xử lý tiên tiến có chi phí đầu tư lớn.

Việc chuyển đổi sang các nguồn năng lượng và công nghệ sạch, chẳng hạn như CCS hay điện gió ngoài khơi cũng yêu cầu nguồn vốn đầu tư rất lớn. Trong khi đó, các cơ chế hỗ trợ về giá năng lượng và hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ cho các công nghệ mới này vẫn còn chưa hoàn thiện hoặc thiếu đồng bộ.

Từ đó, PVN kiến nghị Nhà nước hoàn thiện chính sách đặc thù ngành Dầu khí bằng cách tiếp tục phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn còn thiếu. Đồng thời, tháo gỡ các vướng mắc pháp luật hiện hành về an toàn sức khỏe môi trường để tạo điều kiện phù hợp với thực tiễn sản xuất kinh doanh đặc thù của Tập đoàn.

Tập đoàn cũng đề xuất hỗ trợ tài chính xanh thông qua việc thiết lập các chính sách ưu đãi thuế và tín dụng xanh cho các dự án bảo vệ môi trường, giảm phát thải, cũng như các dự án năng lượng tái tạo và công nghệ CCS/CCUS, nhằm giảm bớt gánh nặng chi phí đầu tư ban đầu cao“Việc phát triển cơ chế thị trường các-bon cần được làm rõ hơn về các quy định liên quan đến thị trường cacbon và tín chỉ cacbon. Điều này sẽ tạo cơ hội để PVN tham gia thị trường, bán tín chỉ cacbon hoặc tín chỉ năng lượng tái tạo, tạo ra nguồn thu nhập mới từ nỗ lực bảo vệ môi trường”- báo cáo nêu

.

Thu Hường

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/pvn-thuc-day-kinh-te-tuan-hoan-phat-trien-bien-ben-vung-432761.html