Những nỗi đau lặng lẽ

    Báo Tiền Phong
    1 đăng lạiGốc

    TP - Hai người phụ nữ trẻ đều có chồng nghiện ma túy và chết vì AIDS. Hai người vợ cũng bị lây nhiễm HIV từ chồng họ. Những ngày sống trong tận cùng tuyệt vọng, hai người phụ nữ ấy đã viết chung một cuốn nhật ký.

    Trong đám tang đầy nước mắt của Hạnh - một phụ nữ mới 34 tuổi, chồng chết vì căn bệnh AIDS cách đó bốn năm, nhiều người ở TP Bắc Giang cho biết, chị cũng mất đi quyền được sống vì căn bệnh lây nhiễm từ chồng. Khác với những đám tang của người nghiện, mắc bệnh AIDS thường vắng vẻ, chóng vánh, đám tang Hạnh không vắng vẻ mà còn có nhiều tiếng khóc như xé ruột gan. Có một người là bạn của Hạnh, tên là Hằng. Hằng khóc cho bạn nhưng cũng khóc cho chính mình. Hai cô ở cạnh nhà nhau, thân thiết với nhau vì có nhiều điểm tương đồng, kể cả những nỗi đau và bi kịch. Hạnh làm nghề xây dựng, chịu thương chịu khó, có hai con, một trai một gái. Hằng là một thợ may giỏi, làm dâu ở một gia đình khá giả. Mẹ chồng Hằng là thiếu tá công an. Hằng có một con gái, khi ấy đã năm tuổi. Hai người chồng của Hạnh và Hằng đều nghiện ma túy, nhiễm HIV. Chồng Hạnh mất năm 2006. Đến năm 2007 chồng Hằng cũng ra đi. Từ đó, Hạnh và Hằng ngày càng gắn bó, thường tâm sự, an ủi lẫn nhau. Hai chị còn viết chung với nhau một cuốn nhật ký. Trong cuốn nhật ký ấy, có những câu thơ bày tỏ nỗi lòng, suy nghĩ và cả sự đau đớn không thể tỏ bày. Hai câu đầu là của Hạnh, hai câu sau của Hằng. Về chữ nghĩa trong câu thơ, Hằng tâm sự với tôi, ấy là nỗi lòng của người vợ dù biết chồng mắc nghiện, rồi sau này mắc bệnh mà không nỡ rời bỏ, không nỡ xa lánh và cả chuyện ái ân cũng chẳng nỡ chối từ. “Em đã nói với anh nhiều lần. Phận anh đã vậy, anh phải nghĩ đến con và em, chứ đừng vì một chút ham muốn nhỏ nhoi, tầm thường mà cướp đi những gì mà chúng ta gây dựng. Nhưng anh nào có nghe”. (Nhật ký của Hằng và Hạnh) Sau đám tang Hạnh, Hằng sống trong im lặng, một mình một bóng. Cô con gái Hằng đã được ông bà nội đón về vì họ bảo sợ để gần mẹ sẽ lây nhiễm. Buồn tủi, tuyệt vọng, ngày nào Hằng cũng sang nhà Hạnh thắp hương. Hằng cũng tự tay may cho Hạnh một bộ quần áo giấy mà không mua ở cửa hàng vàng mã. Đó là những dòng cuối cùng mà Hằng viết trong nhật ký. Đêm 31/5/2009, Hằng trút hơi thở cuối cùng. Sau khi Hằng chết vài tháng, chúng tôi tìm về quê của cô, cách TP Bắc Giang hơn 30km. Căn nhà ấy, nơi cô sinh ra, được ăn học và đến khi trưởng thành lấy chồng về thành phố giờ phủ một bầu không khí ảm đạm và lành lạnh. Có thể đó là cảm giác của tôi, nhưng cũng hoàn toàn có thể là thực. Là thực bởi nỗi đau mất con, nỗi đau mất chị, nỗi đau mất mẹ của bé H. trong căn nhà ấy khó mà khỏa lấp, mà giấu giếm đi được. Bố cô, người có vẻ cứng cỏi nhất, cũng chỉ nén không cho nước mắt chảy ra ngoài. Ông là cán bộ trong quân đội đã nghỉ hưu, mỗi ngày vẫn lấy niềm vui tưới cây, tỉa cành để mà bận rộn. Mẹ cô vẫn đang là thủ trưởng của một cơ quan thuộc ngành giáo dục. Không thiếu thốn về kinh tế, không thiếu thốn về vị thế xã hội và, thế nên, khi biết cô sẽ lấy chồng về thành phố thì cả nhà đều rất vui, nghĩ rằng cô cao ráo, xinh đẹp như thế, gia đình nền nếp như thế thì chuyện lấy chồng thành phố sáng sủa, đẹp trai là xứng đáng. Ngày xe hoa về quê đón dâu cũng là ngày bố mẹ cô mở mày mở mặt. )

    Nguồn Tiền Phong: http://www.tienphong.vn/tianyon/index.aspx?articleid=169238&channelid=2