Những mùa ngô xa cũ
Ngày tôi năm, sáu tuổi, cha mẹ đã cho thôi theo lên nương. Những nương ngô xanh ngút mắt chân núi Ngàng. Thân ngô mập mạp vươn lên từ kẽ đá. Mùa ngô trổ cờ, cả chân dãy núi Ngàng trải một màu tím nhạt. Chẳng bao lâu ngô búng sữa. Ngô quê tôi vừa dẻo vừa thơm vừa ngọt. Tôi nhớ cứ dịp đầu năm, cha mẹ tôi dậy sớm mài dao, gói cơm lên nương. Cha dựng một căn lều nhỏ cạnh nương để cả nhà ăn cơm và nghỉ trưa, chiều tối mới về. Nương ngô cỏ xanh um, cha mẹ lia từng nhát dao sắc ngọt, mùi cỏ dại, mùi nhựa cây ngai ngái. Khi cỏ trên nương đã khô, tôi giúp cha mẹ vun thành từng đống và đốt. Khói nương cay xè, vừa khét, vừa thơm. Gió thốc tro nương bám đầy trên người, trên mặt.
Truyện ngắn
Nhớ nhất là khi ngô bắt đầu ngậm sữa, các loài chim thú kéo nhau về tìm ăn, nào quạ, chim, chuột, sóc, lợn rừng, khỉ. Phá phách nhất là lũ khỉ. Tôi theo cha lên lều ở cả ngày để canh nương. Canh lũ chim, quạ chỉ cần dựng con bù nhìn hoặc pháo nứa là chúng sợ. Còn với lũ khỉ thì bó tay. Lá cây rùng rùng chuyển động, lũ khỉ đu cành ào xuống bẻ ngô. Cha con tôi cầm đá, cầm cây ra xua đuổi, chúng ôm ngô đu lên những ngọn cây cao bóc ăn. Ăn xong chúng ném cùi ngô trở lại, thi nhau kêu: “Khẹc khẹc!... Chéc chéc!...” vẻ trêu ngươi và đắc thắng. Mẹ tôi than: “Bao nhiêu mồ hôi công sức để nuôi lũ khỉ hết thôi!”. Cha tôi vẫn cười: “Ăn lộc của rừng, trả lại rừng một chút, chúng ăn làm sao hết được ngô ở chân núi Ngàng này”. Đúng như lời cha nói, chim thú mặc sức phá phách nhưng nhà tôi ngô vẫn đầy bồ, ngô treo trĩu các sào nứa dưới gầm sàn, không bao giờ lo đói.

Minh họa của Trung Hiếu (Bảo tàng tỉnh Yên Bái)
Mùa ngô trổ cờ, năm tôi mười một, mười hai tuổi gì đó, có một đoàn người lạ đem theo máy móc mở đường cắt ngang nương ngô dẫn lên đỉnh núi. Dãy núi Ngàng mờ sương, thâm u bình lặng bao đời trở nên náo động, tiếng mìn nổ ì ùng, đá lở ầm ầm từ đỉnh núi xuống, bụi tung trắng xóa. Đá đè nát những thân ngô mập mạp, vùi lấp cả một dãy nương ngô xanh ngút ngàn. Người dân bản tôi nhìn lên trái núi Ngàng xa xót, tiếc ngẩn ngơ những nương ngô. Trái núi Ngàng trở thành công trường khai thác đá, những cây cổ thụ cũng bị đám người lạ chặt hạ. Núi Ngàng tan hoang. Không có đất để trồng ngô nữa, thu nhập chính của gia đình tôi không còn. Cha tôi và một số người trong bản đành phải đi bốc vác đá thuê ngay trên nương ngô của nhà mình.
Nhớ nương ngô, mẹ tôi chuyển xuống đồi thấp trồng. Đồi trọc lốc, trơ đá sỏi, cuốc hố tra hạt phải lựa thật khéo mới không va vào đá. Ngô lên còi cọc. Tôi giúp mẹ vun ngô, lúc mệt tôi thường ngồi nghỉ dưới bóng những tảng đá lớn, một thời gian lại thấy hòn đá như lớn hơn, cao hơn một chút. Em tôi lấy cây để đo và reo lên: “Mẹ ơi, từ mùa xuân đến mùa hè hòn đá cao hơn ba gang tay rồi này!”. Mẹ tôi thở dài: “Rừng không còn, mưa lũ xói mòn hết đất màu, không biết đời sau sẽ ra sao?”. Vất vả, cực nhọc, không phụ công người, rồi ngô cũng ra quả. Những quả ngô nhỏ nhỏ, dài dài nhưng thơm ngon đến lạ. Chim thú không còn đến phá, lũ khỉ cũng đi đâu mất.
Nương ngô không còn chim thú phá, nhưng giờ có người phá. Khi ngô căng sữa, bắt đầu nên luộc là lúc nương ngô bị bẻ trộm từng khoảnh rộng. Mẹ tôi phàn nàn: “Từ xưa tới giờ người bản ta dù nghèo khó đến mấy cũng không trộm của nhau, giờ tự dưng lại có kẻ trộm!”. Trước đây tôi có nhiệm vụ canh chim thú, giờ cha mẹ giao cho tôi nhiệm vụ nặng nề hơn là canh người. Tôi nấp sau tảng đá lớn để rình. Một ngày trôi qua mệt mỏi chẳng thấy gì. Đến chiều tối, khi chuẩn bị về thì tôi nghe thấy tiếng chân người lạo xạo vào ven nương. Tôi rướn người trông ra thì thấy một người đàn ông cao to, mắt xếch, cằm bạnh đang tiến vào nương ngô. Ông cởi chiếc quần dài, túm chân quần lại và bẻ ngô đút vào hai ống quần. Không phải người trong bản.
Nhớ lời cha dặn “Nếu bắt gặp kẻ trộm thì chạy về gọi cha và thanh niên trai tráng”, nhưng lúc này, máu của một thằng trai bản đang bắt đầu lớn trong tôi. Tôi bước ra chặn ngay trước mặt tên trộm: “Trả lại ngô cho tôi, nếu không… tôi sẽ mách cha”.
Tên trộm ngửa cổ cười khằng khặc: “Thằng mán con. Cha mày à? Về mách đi. Cha mày chỉ là thằng bốc đá thuê dưới quyền tao, tao mà cho nghỉ thì cả nhà mày bốc đá mà ăn nhé. Cút xéo ngay không tao đạp cho một phát bây giờ”.
Máu giận trong tôi sôi lên, tim tôi đập loạn đến sắp nghẹt thở. Hắn dẫn người đến phá núi, phá rừng, phá nương ngô, giờ lại ngang nhiên cướp đi mồ hôi công sức, cướp cái ăn của cả gia đình chúng tôi. Tôi giằng mạnh túm ngô trên tay tên trộm: “Trả lại ngô cho tôi!”. “Mày tưởng tao sợ lũ mán rừng chúng mày à?”. Tên trộm giơ chân đạp mạnh. Tôi ngã văng, hai khuỷu tay xô trên đá sỏi bật máu.
Tôi về mách cha. Cha tôi chẳng nói gì, lẳng lặng lên nhà lấy hai con dao nhọn ra thích nước, ngồi dưới máng lần mài rất lâu. Hôm sau cha dậy thật sớm, không đi làm mà đi canh nương. Cha bảo tôi ở nhà. Tôi biết cha đang âm thầm lên kế hoạch gì đó. Tôi lén theo sau cha. Cha tôi gài bẫy ở lối đi ngay cạnh chỗ ngô bị bẻ trộm. Một buổi nặng nề trôi qua. Đến gần trưa, tên trộm hôm qua xuất hiện. Hắn đi từ bãi khai thác đá xuống suối tắm, khi về hắn tạt vào nương ngô nhà tôi. Lần này hắn đem theo cả bao tải để đựng ngô. Hắn ngang nhiên bước vào nương, ung dung bẻ từng quả ngô cho vào bao tải. Vì hắn đi từ dưới lên nên không qua chỗ cha tôi đặt bẫy. Cha con tôi vẫn ngồi yên chờ đợi. Lấy gần đầy bao tải ngô, tên trộm vác lên vai, nhằm hướng con đường mòn dẫn lên bãi đá.
Đúng như dự tính của cha, một thợ săn có nghề, tên trộm tiến thẳng về phía cha đặt bẫy. Tôi bắt đầu nhẩm đếm ngược: “Chín, tám, bảy, sáu, năm, bốn, ba, hai!…”. Cần bẫy đang căng với sức mạnh ghê gớm ẩn dưới lớp lá ngô già. Chỉ cần một bước nữa thôi, hai con dao sắc lẹm sẽ phóng ra cắm phập vào tim hắn, bụng hắn, hoặc cứa đứt cổ hắn. Cha tôi đứng hẳn dậy, vẻ mặt đầy căng thẳng. Hắn sẽ chết, đáng đời tên trộm, đúng hơn là tên cướp ngày. Tim tôi đập loạn, nước mắt tôi tự dưng chảy tràn hai má.
Bước chân cuối cùng của tên trộm chuẩn bị nhấc khỏi mặt đất, chẳng hiểu sao, như có ma lực nào đó, tôi lại hét lên, hét đến lạc cả giọng: “Có bẫy!”. Tên trộm quay lại nhìn tôi, hắn lại cười khằng khặc: “Mán con, mày dọa ma ông à? Cút xéo không ông giết”. Tên trộm quay mặt, nhấc chân. Cha tôi nhảy hẳn lên tảng đá đang nấp. Bất thình lình, bằng một sức mạnh phi thường, tôi vồ một hòn đá, lao tới, ném vào chốt bẫy. “Phập! Chát!”.
Hai con dao nhọn sáng loáng cùng phóng ra một lúc, một con sát qua bụng tên trộm cắm phập vào thân cây bên cạnh, một con sát qua ngực, cắm vào hòn đá tai mèo tóe lửa, tung lên một làn khói mỏng. Tên trộm mặt đang đỏ phừng phừng bỗng trở nên trắng bệch. Hắn chết lặng một lúc rồi luống cuống sải những bước dài lên dốc, chân hắn vẫn còn run.
Cha nhảy khỏi tảng đá, ôm tôi nhấc bổng lên. Tôi thấy tim cha đập thình thịch, mồ hôi cha rịn ra trên trán, không còn sự bình tĩnh như những lần cha đi săn. Tôi đã giúp tên trộm trốn thoát. Tôi đang chờ đợi sự trừng phạt hay trách móc của cha. Nhưng không, tay cha vỗ pộp pộp vào mông tôi: “Cảm ơn con! Cảm ơn con! Suýt nữa cha đã mắc tội giết người chỉ vì mấy quả ngô trong lúc nóng giận! May quá!...”. Cha con tôi cùng thu những quả ngô còn sót lại trên nương, đem về chia hết cho anh em và các nhà trong bản. Mùa ngô ấy là mùa ngô cuối cùng.
Từ năm ấy nhà tôi không trồng ngô nữa. Tôi nhớ con đường nhỏ gập ghềnh đầy sỏi đá, ướt đẫm sương; nhớ cả mùi mồ hôi của cha, mẹ khi lên nương; tôi nhớ lũ khỉ và tôi nhớ quay quắt cái mùi ngô non, ngô nướng… những mùa ngô không bao giờ còn gặp lại.
Nguồn Lào Cai: http://www.baolaocai.vn/bai-viet/359224-nhung-mua-ngo-xa-cu











