Nghị quyết số 19-NQ/TW đánh dấu một bước ngoặt mang tính chiến lược, định hình mô hình phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới với tầm nhìn dài hạn đến năm 2045 và 2130.
Thành quả 40 năm Đổi mới là bệ phóng vững chắc để Việt Nam tự tin đặt ra mục tiêu tăng trưởng cao khi bước vào giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, điều này chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành năng lực tự chủ của nền kinh tế, sức mạnh của doanh nghiệp Việt Nam và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao cho dân tộc Việt Nam quyền lựa chọn, kiến tạo con đường phát triển kinh tế vì lợi ích của đất nước và nhân dân. Từ thời khắc ấy, khát vọng độc lập gắn liền với khát vọng xây dựng một quốc gia tự chủ, giàu mạnh, trong đó thành quả phát triển phải nâng cao đời sống và mở rộng cơ hội tiến bộ cho mọi người dân.
Phóng viên TTXVN thực hiện chùm bài "Thành phố Hồ Chí Minh đổi mới thể chế, mở dư địa tăng trưởng mới" phản ánh nỗ lực kiến tạo mô hình kinh tế mới và nâng cao năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Bốn thập kỷ sau khi Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã đi một chặng đường dài, đủ thế và lực để trở thành một chủ thể tích cực, có trách nhiệm trong đời sống quốc tế. Với các tổ chức và giới học giả quốc tế, đằng sau đó là một quá trình thay đổi sâu sắc về tư duy phát triển của đất nước: từ mở cửa để thoát khỏi khó khăn, chủ động hội nhập để tạo động lực phát triển, cho đến tiếp tục đổi mới để vươn mình trong kỷ nguyên mới.
Nghị quyết 19-NQ/TW đã đánh dấu bước chuyển chiến lược trong tư duy phát triển của Việt Nam, từ mục tiêu tăng trưởng sang đổi mới mô hình phát triển quốc gia, tạo nền tảng hiện thực hóa khát vọng 2045.
Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam được thông qua tại Hội nghị Trung ương 3 đã xác định rõ: 'Đổi mới mô hình phát triển đất nước trước hết là tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia để tạo năng lực phát triển mới'.
Bốn mươi năm trước, Đổi mới đã thay đổi quỹ đạo phát triển của Việt Nam. Kinh tế nhiều thành phần và kinh tế thị trường trở thành nền tảng giúp đất nước thoát khỏi khủng hoảng, mở cửa với thế giới và duy trì tăng trưởng trong gần bốn thập niên.
Bộ Chính trị ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể
Đại hội XIV của Đảng và Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV đã mở ra những định hướng chiến lược mới nhằm đưa Việt Nam phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới. Trong bối cảnh thế giới biến động mạnh mẽ bởi chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, cạnh tranh chiến lược và tái cấu trúc chuỗi cung ứng, việc mở rộng không gian phát triển không còn đơn thuần là mở rộng địa giới hay quy mô kinh tế mà là kiến tạo những dư địa tăng trưởng mới dựa trên thể chế, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực quản trị quốc gia.
Sau hơn bốn thập kỷ đổi mới, mỗi bước phát triển của đất nước đều gắn với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó ngành Tài chính giữ vai trò tiên phong trong hoàn thiện thể chế, mở rộng hợp tác và tạo lập khuôn khổ pháp lý cho thương mại, đầu tư và tài chính quốc tế.
Khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh không thể chỉ được hiện thực hóa bằng tiềm năng hay nguồn lực tự nhiên. Điều kiện tiên quyết là phải xây dựng một nền quản trị biển hiện đại, hoàn thiện thể chế và khơi thông các nguồn lực phát triển. Đây cũng là một trong những đột phá quan trọng mà Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV đặt ra.
Biển là không gian sinh tồn, phát triển và hội nhập của Việt Nam. Từ phát triển kinh tế biển đến xây dựng quốc gia biển mạnh là bước chuyển chiến lược, đòi hỏi tư duy mới, thể chế mới, công nghệ mới và những lực lượng tiên phong. Tuyến bài 'Quốc gia biển mạnh - khát vọng mới, sứ mệnh mới' khám phá hành trình hiện thực hóa khát vọng vươn ra đại dương của Việt Nam.
Để triển khai Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã chuyển đường lối, mục tiêu và những định hướng chiến lược lớn của đất nước thành quyết sách tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và tạo năng lực phát triển mới.
Sáng 29/7, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV. Tại hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày chuyên đề về Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày chuyên đề về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV diễn ra sáng 29/7, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đã quán triệt 2 chuyên đề 'Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam' và 'Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh'.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Trung ương xác định đó là, triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo; tài sản hóa các giá trị văn hóa; xây dựng văn hóa số, bảo vệ chủ quyền văn hóa số quốc gia.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, Trung Quốc đang điều chỉnh cách tiếp cận đối với toàn cầu hóa. Thay vì coi hội nhập là mục tiêu, Bắc Kinh xem đây là công cụ để nâng cao năng lực công nghệ, hiện đại hóa công nghiệp và củng cố tự chủ chiến lược, qua đó tạo ra những tác động đáng chú ý đối với kinh tế thế giới.
Với tăng trưởng ngày càng giống với sự tái cấu trúc bền vững năng lực sản xuất hơn là sự tăng trưởng tạm thời, Việt Nam ngày càng tỏ ra hấp dẫn với đầu tư dài hạn. Tuy nhiên, các chính sách thu hút đầu tư cần nhấn mạnh yếu tố công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và chuyển giao tri thức.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định rõ: Thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh...
Trong bối cảnh dư địa từ vốn và lao động giá rẻ đang dần tiệm cận ngưỡng giới hạn, trí tuệ nhân tạo (AI) mở ra cơ hội tạo bước nhảy về năng suất, đổi mới mô hình kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng. Trong bối cảnh đó, dữ liệu chất lượng, hạ tầng số an toàn và năng lực làm chủ công nghệ được xem là những yếu tố quyết định để AI phát huy hiệu quả và tạo ra giá trị bền vững.
Trí tuệ nhân tạo (AI) mở ra cơ hội tạo bước nhảy về năng suất, đổi mới mô hình kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng. Song, tác động của AI không đương nhiên là tích cực. Nếu thiếu hạ tầng, dữ liệu, nhân lực và thể chế phù hợp, công nghệ này có thể làm tăng thất nghiệp, bất bình đẳng, rủi ro an ninh và phụ thuộc công nghệ.
Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) nhấn mạnh, việc Việt Nam bước vào nhóm thu nhập trung bình cao không phải là vạch đích, mà là điểm khởi đầu cho một hành trình phát triển đòi hỏi khắt khe hơn về chất lượng.
GS.TS Hoàng Văn Cường kỳ vọng, đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo sẽ giúp cho tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam có một bước nhảy vọt đột phá.
Nhiều năm qua, tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, đất đai, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên. Mô hình ấy đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, đưa nền kinh tế từ nghèo vươn lên quy mô lớn trong khu vực. Nhưng khi mục tiêu là nước phát triển có thu nhập cao thì chừng đó chưa đủ. Bởi vậy, Hội nghị Trung ương 3 xác lập bước chuyển chiến lược, từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng đầu vào sang phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người.
Tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, Đề án đổi mới mô hình phát triển Việt Nam (sau đây gọi tắt là Đề án) được đưa ra thảo luận, tiếp tục làm sáng rõ các phương thức triển khai mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ đạo, gợi mở trong gần 1 năm qua.
Trả lời phỏng vấn các cơ quan báo chí trước thềm Hội nghị Ngoại giao 33 và Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc 22, THỨ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO LÊ ANH TUẤN nêu rõ, ngành Ngoại giao sẽ tiên phong đẩy mạnh 'ngoại giao công nghệ', tham gia định hình các khuôn khổ pháp lý toàn cầu về công nghệ và không gian số, tạo dựng các khuôn khổ hợp tác công nghệ, nhất là về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, lượng tử, khoáng sản chiến lược… kết nối với các trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu của thế giới, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Theo ThS Phạm Thành Công, mô hình tăng trưởng hiện nay của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào vốn và lao động, trong khi đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn khiêm tốn.
Việc Việt Nam được Ngân hàng Thế giới (WB) xếp vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao là một dấu mốc đáng ghi nhận trên hành trình phát triển. Mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD là một khát vọng lớn.
Sau nửa đầu năm tạo nền tảng tăng trưởng tích cực, kinh tế Việt Nam bước vào chặng nước rút với mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong bối cảnh thế giới còn nhiều bất định. Thành công của cả năm sẽ phụ thuộc vào năng lực dự báo, bản lĩnh điều hành và sự quyết liệt trong khơi thông các nguồn lực phát triển.
Việt Nam bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao theo chuẩn của Ngân hàng Thế giới. Đây là dấu mốc quan trọng sau gần bốn thập niên Đổi mới. Nhưng càng tiến gần mục tiêu trở thành nước phát triển, bài toán tăng trưởng của Việt Nam càng khó hơn.
Về mục tiêu tăng trưởng 2 con số mà Kết luận 18 đề cập, các chuyên gia kinh tế cho rằng đây là một thách thức, tuy nhiên không phải là nằm ngoài tầm với. Để thành công, mục tiêu đã có, vấn đề là lộ trình và khả năng thực thi để biến thách thức thành cơ hội. Theo TS Cấn Văn Lực, tăng trưởng là một lộ trình dài hạn mà quan điểm nhất quán là không đánh đổi tính bền vững.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trong giai đoạn tới, Việt Nam cần những cải cách đủ mạnh ở cấp độ vi mô nhằm khơi thông nguồn lực, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Những năm gần đây đã chứng minh một điều rõ ràng: Việt Nam có năng lực tạo dựng và duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ.
Điều đặc biệt của giai đoạn hiện nay là chủ trương của Đảng vừa mang tầm chiến lược, đặt ra mục tiêu nhưng cũng đồng thời đưa ra các giải pháp cụ thể. Tăng trưởng 2 con số không phải chỉ bằng mệnh lệnh mà bằng một sự thay đổi căn bản tư duy, đặt nền tảng cho phát triển.
Muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng 2 con số, nền kinh tế phải được xây dựng trên một nền tảng mới: Năng suất cao hơn, doanh nghiệp mạnh hơn, thị trường thông suốt hơn, công nghệ hiện đại hơn và bộ máy thực thi chất lượng, hiệu quả hơn.
Hội thảo khoa học đề xuất đột phá thể chế, phát triển AI, kinh tế số và nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước có công nghiệp hiện đại.
Việt Nam đã chính thức vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Mục tiêu tiếp theo là xây dựng nền công nghiệp hiện đại, là quốc gia đang phát triển. Đây cũng là chủ đề Hội thảo do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp cùng Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) và Viện Kinh tế và Dịch vụ Nhân sinh tổ chức sáng 15-7.
Những quyết sách mang tính đột phá từ Đại hội XIV đã vạch ra con đường, lộ trình phát triển của dân tộc, khơi thông mọi nguồn lực để bứt phá trở thành quốc gia giàu mạnh, thịnh vượng. Dưới góc nhìn kinh tế và thể chế, các chuyên gia thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã phân tích sâu sắc về những giải pháp cốt lõi cho tầm nhìn chiến lược này.
Theo TS Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, kinh tế Việt Nam muốn tăng trưởng cao phải dựa nhiều hơn vào năng suất và năng lực doanh nghiệp.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần một làn sóng cải cách chính sách ở cấp độ vi mô. Theo các chuyên gia, bên cạnh cải cách thể chế và tín dụng, chính sách thuế cần được thiết kế theo hướng hỗ trợ đúng đối tượng, tạo động lực cho đầu tư, đổi mới công nghệ và phát triển khu vực kinh tế tư nhân.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, việc chuyển trọng tâm sang cải cách vi mô được xem là 'chìa khóa' để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới.
Trong bối cảnh dư địa của các chính sách vĩ mô truyền thống đang dần thu hẹp, cải cách vi mô có tính đột phá được xem là 'chìa khóa' quyết định để thúc đẩy sức sản xuất của doanh nghiệp, kích thích sự phát triển của nền kinh tế, hướng đến mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Sáng 14.7, tại Hà Nội, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức Diễn đàn 'Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số'.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào mở rộng vốn đầu tư hay lao động giá rẻ mà phải tạo đột phá từ năng suất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Muốn đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần đồng bộ cải cách thể chế, phát triển thị trường vốn, bảo đảm an ninh năng lượng và nâng cao chất lượng nhân lực.
Các điểm nghẽn vi mô cản trở sự phát triển của doanh nghiệp, cũng như mục tiêu tăng trưởng cao là: thể chế (chi phí tuân thủ, tính ổn định, thực thi), nguồn lực (vốn, đất đai, nhân lực, công nghệ, dữ liệu), thị trường (đầu ra, tiêu chuẩn, liên kết chất lượng) và đổi mới (R&D, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh).
Muốn đạt tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần chuyển trọng tâm sang cải cách vi mô, tháo gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần đẩy mạnh cải cách vi mô đột phá, lấy doanh nghiệp làm trung tâm và khơi thông các động lực tăng trưởng mới.
Việt Nam đã chính thức vào nhóm các quốc gia thu nhập trung bình cao, song chúng ta cần nỗ lực hơn gấp bội để thoát 'bẫy thu nhập trung bình' nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược trở thành quốc gia thu nhập cao vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước năm 2045.
GDP 6 tháng đầu năm cao nhất trong 15 năm qua, tuy nhiên để đạt mục tiêu cả năm 2026 vẫn còn nhiều thách thức. Chuyên gia kinh tế cho rằng, việc phát huy hiệu quả đầu tư công, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, cải cách thể chế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khơi thông sức mạnh của khu vực kinh tế tư nhân sẽ là những động lực then chốt để tạo bứt phá.
Để trở thành quốc gia phát triển, nền kinh tế không chỉ cần nhiều doanh nghiệp hơn mà cần những doanh nghiệp có quy mô lớn, có năng lực quản trị hiện đại, làm chủ công nghệ, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn đa quốc gia.
Mục tiêu đưa kinh tế Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số trong giai đoạn 2026-2030 đang được xác định là yêu cầu mang tính chiến lược nhằm tạo nền tảng cho đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
Lợi thế lao động giá rẻ từng giúp Việt Nam thu hút đầu tư và duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Và khi mục tiêu tăng trưởng 2 con số được đặt ra, chất lượng nguồn nhân lực trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và sức bật của nền kinh tế trong dài hạn.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không phải là sự lựa chọn cảm tính mà là mục tiêu phấn đấu của tiến trình phát triển đất nước trong giai đoạn mới, phản ánh khát vọng vươn lên mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam. Do đó, những luận điệu xuyên tạc về mục tiêu này cần được nhận diện và phản bác kịp thời trên cơ sở phân tích khoa học và thực tiễn phát triển sinh động của đất nước.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không phải là sự lựa chọn cảm tính mà là mục tiêu phấn đấu của tiến trình phát triển đất nước trong giai đoạn mới, phản ánh khát vọng vươn lên mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam. Do đó, những luận điệu xuyên tạc về mục tiêu này cần được nhận diện và phản bác kịp thời trên cơ sở phân tích khoa học và thực tiễn phát triển sinh động của đất nước.
Việt Nam chính thức vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Đây là thành quả của gần 40 năm đổi mới, mở ra chặng đường mới hướng tới mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045.
Mục tiêu tăng trưởng 2 con số không chỉ đặt ra yêu cầu về tốc độ, mà còn đòi hỏi Việt Nam phải thay đổi mô hình phát triển. Khi dư địa của các động lực truyền thống dần thu hẹp, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang được xác định là nền tảng để nâng cao năng suất, tạo năng lực cạnh tranh mới và mở ra không gian tăng trưởng bền vững.
Phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp nhỏ và vừa là chìa khóa giúp Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số và trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn cải cách sâu rộng để hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Từ nền tảng và sức chống chịu được củng cố qua nhiều biến động toàn cầu, TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Vietnam nhấn mạnh, Việt Nam đang đứng trước cơ hội bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới nhờ những động lực mới. Việc triển khai hiệu quả các ưu tiên chiến lược sẽ tạo nền tảng để nền kinh tế bứt phá, hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững giai đoạn tới.