Thể chế kiến tạo, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, năng lực của doanh nghiệp trong nước, hạ tầng chiến lược cùng nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định là 5 trụ cột then chốt, tạo sức bật để tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030.
Thước đo thành công của mô hình phát triển mới không chỉ là tốc độ tăng GDP, mà là năng suất, giá trị gia tăng, chất lượng việc làm, môi trường và chất lượng cuộc sống của người dân. Cùng với việc thay đổi thước đo là yêu cầu chuyển từ quản lý theo ngành, theo thủ tục sang quản trị “bài toán phát triển” và kết quả đầu ra.
Bước vào thế kỷ XXI, thế giới biến chuyển khôn lường trong những dòng xoáy cạnh tranh địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, bất ổn an ninh năng lượng, cạnh tranh dữ liệu và công nghệ cốt lõi. Sức mạnh và quyền tự quyết của một quốc gia không còn gói gọn trong các thước đo truyền thống. Câu hỏi sống còn đặt ra là một dân tộc cần chuẩn bị những năng lực nội sinh nào để thực sự định đoạt vận mệnh và làm chủ tương lai?
Nền kinh tế cần chuyển dần từ việc phụ thuộc nhiều vào gia tăng đầu vào sang dựa vào năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Giai đoạn mới đòi hỏi chuyển trọng tâm sang năng suất, năng lực nội sinh, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, chuyển đổi số-xanh, chất lượng thể chế, phát triển con người. Đổi mới mô hình phát triển vì thế là đổi mới tư duy, cách phân bổ nguồn lực, mô hình doanh nghiệp, phương thức quản trị và thước đo thành công.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu Việt Nam chuyển mạnh từ mô hình dựa nhiều vào mở rộng đầu vào sang mô hình phát triển dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và sử dụng hiệu quả nguồn lực.
Theo TS Võ Trí Thành, thay đổi mô hình tăng trưởng không chỉ là câu chuyện về các con số, mà phải bắt đầu từ việc nhìn nhận lại cấu trúc nền kinh tế, năng lực tự chủ chiến lược, chất lượng nguồn lực; đồng thời thay đổi cách ứng xử với công nghệ, dữ liệu và con người trong bối cảnh thế giới đầy biến động.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam cần thay đổi cách thức tạo ra tăng trưởng, chuyển từ dựa vào vốn, lao động sang dựa nhiều hơn vào năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Phá bỏ giới hạn của mô hình cũ dựa trên vốn và nhân công rẻ, Việt Nam đang đứng trước vận hội bứt phá thần tốc thông qua việc kiến tạo hệ thống động lực mới từ khoa học công nghệ cùng với chuyển đổi số và quản trị quốc gia bằng dữ liệu thời gian thực.
Việt Nam cần mô hình tăng trưởng như thế nào để đạt được hai mục tiêu 100 năm: đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao?
Ngày 8/9, tại Hà Nội, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) tổ chức hội thảo khoa học “Xác lập mô hình tăng trưởng mới gắn với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, đổi mới mô hình phát triển kinh tế dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030”.
Một trong những mục tiêu được nêu trong Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đến năm 2030, quy mô kinh tế số của nước ta đạt tối thiểu 30% GDP; tầm nhìn đến năm 2045, quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP. Đây là mục tiêu hoàn toàn khả thi nếu những nút thắt hiện nay được tháo gỡ triệt để.
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đánh dấu bước chuyển chiến lược trong tư duy phát triển của Việt Nam, từ mục tiêu tăng trưởng sang đổi mới mô hình phát triển quốc gia.
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã tạo dựng nền tảng phát triển quan trọng, đưa quy mô nền kinh tế lên 514 tỷ USD. Tuy nhiên, khi các động lực dựa vào vốn, lao động và lợi thế chi phí thấp dần thu hẹp, trong bối cảnh đó, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đang được coi là động lực cốt lõi để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.
40 năm Đổi mới là một trong những bước ngoặt quyết định mở ra không gian phát triển mới. Việt Nam đã thực hiện một cuộc chuyển đổi sâu sắc về tư duy phát triển.
Trong suốt 40 năm qua, cơ chế huy động và phân bổ nguồn lực của Việt Nam ngày càng được hoàn thiện; trong đó thị trường ngày càng đóng vai trò mạnh mẽ hơn trong phân bổ nguồn lực.
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Trung Quốc đang chuyển trọng tâm sang thúc đẩy tiêu dùng, Hàn Quốc tái định hình toàn diện chiến lược kinh tế, trong khi Ấn Độ chuyển hướng chú trọng vào công nghệ.
Sau bốn thập kỷ kiên trì thực hiện Đổi mới, Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lịch sử.
Từ việc chú trọng đào tạo, thu hút nhân lực đến đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý, sản xuất và đời sống, tỉnh Phú Thọ đang từng bước hình thành hệ sinh thái phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Từ tài nguyên, cửa khẩu, nông nghiệp, du lịch đến dữ liệu và nguồn nhân lực, tỉnh lựa chọn 8 "bài toán" lớn nhằm xác định đúng "điểm nghẽn", tìm lời giải khả thi, tạo ra sản phẩm ứng dụng và đo đếm bằng hiệu quả thực tế, qua đó, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2026 - 2030.
81 năm sau ngày Quốc khánh, Việt Nam đang bước vào một chặng đường phát triển mà những động lực truyền thống không còn đủ để tạo ra dư địa tăng trưởng mới. Bên cạnh đường sá, nhà máy, cảng biển, đất nước cần những “công trình” của thời đại số - dữ liệu, AI, hạ tầng tính toán, nhân lực công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo - để biến tri thức thành năng suất, công nghệ thành giá trị và đổi mới thành sức cạnh tranh.
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã tạo dựng nền tảng phát triển mới, với quy mô kinh tế, năng lực sản xuất và vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao.
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã tạo dựng nền tảng phát triển mới, với quy mô kinh tế, năng lực sản xuất và vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao.
Từ yêu cầu tạo động lực mới cho phát triển sau Hội nghị Trương ương 3, Việt Nam đứng trước nhu cầu mở rộng các không gian phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời phát huy hiệu quả không gian truyền thống, nâng cao năng lực quản trị và chủ động ứng phó với những rủi ro mới.
Trong bối cảnh những động lực tăng trưởng truyền thống dần bộc lộ giới hạn, đổi mới mô hình phát triển, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, năng suất và con người làm những động lực mới, đang trở thành yêu cầu cấp thiết để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam thịnh vượng. Một mô hình phát triển mới đang được định hình.
Trong kỷ nguyên chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, những cách làm từng phù hợp trong giai đoạn trước không còn đủ để đáp ứng yêu cầu mới.
Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã xác định những định hướng lớn nhằm tạo đột phá về thể chế, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực. Trong bối cảnh đó, xây dựng năng lực phát triển mới là yêu cầu then chốt để cụ thể hóa các định hướng chiến lược, hướng tới mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.
Trong giai đoạn phát triển mới, nâng cao năng lực quản trị và thực thi không chỉ là yêu cầu cải cách bộ máy nhà nước, mà phải nhìn nhận như một bộ phận cấu thành của năng lực phát triển. Quản trị quốc gia phải chuyển từ tư duy quản lý những gì đang có sang chủ động kiến tạo năng lực mới; từ giải quyết công việc sang tạo ra kết quả; từ phản ứng trước các vấn đề sang chuẩn bị năng lực thích ứng với những thay đổi chưa thể dự báo đầy đủ.
Đại hội XIV của Đảng mở ra một chặng đường phát triển mới với mục tiêu rất cao: Đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Nhưng phía sau những mục tiêu ấy là yêu cầu lớn hơn: Xây dựng năng lực phát triển mới của quốc gia.
Trong bối cảnh khoa học-công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số (CĐS) đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, mô hình quản trị, cấu trúc của nền kinh tế toàn cầu, yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đối với đất nước ta trở nên hết sức cấp thiết. Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Kết luận số 18-KL/TW ngày 2-4-2026 về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “hai con số” (Kết luận 18).
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam xác định yêu cầu chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, tài nguyên, lao động và gia công sang dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Trong giai đoạn phát triển mới, chất lượng thể chế sẽ quyết định chất lượng tăng trưởng. Nền thể chế biết kiến tạo năng lực sẽ tạo ra động lực phát triển mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, mở rộng không gian phát triển cho nhiều thế hệ mai sau.
Việt Nam cần chuyển từ tăng trưởng dựa vào lao động giá rẻ sang mô hình dựa trên tri thức, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, tạo giá trị cao.
Yêu cầu của "Kỷ nguyên mới", đòi hỏi một mô hình phát triển hoàn toàn mới. Đó là mô hình dựa trên nền tảng của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quản trị quốc gia hiện đại.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nhân lực chất lượng cao được xác định là những động lực chính cho mô hình tăng trưởng mới, khi Việt Nam đặt mục tiêu GDP tăng bình quân từ 10% mỗi năm giai đoạn 2026-2030.
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chủ động kiến tạo một mô hình phát triển mới, khi những lợi thế truyền thống như lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên và mở rộng quy mô sản xuất dần thu hẹp.
Bước vào giai đoạn 2026-2030, thành phố Hà Nội đang tập trung tái cấu trúc sâu sắc mô hình tăng trưởng, xác định chuyển đổi số và phát triển khoa học - công nghệ là động lực trọng tâm, nguồn lực sản xuất mới, đây không chỉ là lựa chọn chiến lược để bứt phá tăng trưởng hai con số, mà còn là chìa khóa khơi thông mọi nguồn lực xã hội, đưa thủ đô vươn cấp độ phát triển mới trong kỷ nguyên tri thức.
Trong bối cảnh thế giới ngày càng khó đoán, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần chuyển từ tư duy chạy theo tốc độ tăng trưởng sang xây dựng mô hình phát triển dựa trên năng suất, linh hoạt và khả năng chống chịu tốt hơn trước những biến động mới.
Chỉ khi doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, những cải cách về thể chế, hạ tầng và công nghệ mới có thể chuyển hóa thành động lực tăng trưởng thực chất.
Kinh tế Việt Nam đã duy trì đà tăng trưởng tích cực trong nhiều năm nhưng mô hình tăng trưởng cũ đã tồn tại nhiều điểm nghẽn, trong khi thách thức mới liên tục xuất hiện.
Tại hội thảo “Xác lập mô hình tăng trưởng mới gắn với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, đổi mới mô hình phát triển kinh tế dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030” diễn ra ngày 17/8, các ý kiến cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần thay đổi cách thức tạo ra tăng trưởng, chuyển từ dựa nhiều vào vốn và lao động sang nâng cao năng suất, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn lực.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, quản trị và cạnh tranh toàn cầu, yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng không chỉ nhằm duy trì tốc độ tăng cao hơn, quan trọng hơn là tạo dựng những năng lực phát triển mới cho con người, doanh nghiệp và quốc gia.
Ngày 15/8, tại Hưng Yên, Viện Kinh tế chính trị học (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) và Trường Đại học Thái Bình (UBND tỉnh Hưng Yên) phối hợp tổ chức hội thảo khoa học “Thể chế phát huy kết quả chuyển hóa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thành lực lượng sản xuất trực tiếp: Thực trạng và những vấn đề đặt ra".
Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao không còn chỉ là một lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu để thực hiện khát vọng trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Đảng, Nhà nước Việt Nam đã xác lập mô hình phát triển mới, trong đó tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế được xác định là những động lực tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế.
Để kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP vào năm 2030 theo Nghị quyết 57-NQ/TW, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần tạo đột phá về thể chế, phát triển đồng bộ hạ tầng số, dữ liệu và nguồn nhân lực, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.
Muốn tạo dư địa tăng trưởng bền vững, Việt Nam cần chuyển mạnh từ tư duy dựa vào mở rộng nguồn lực sang nâng cao năng lực công nghệ, đổi mới quản trị và chất lượng thể chế. Đây là những nội dung được các chuyên gia tập trung thảo luận tại Hội thảo “Chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thúc đẩy năng suất quốc gia”, diễn ra ngày 14/8 tại TPHCM.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được chuyển hóa thành năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì vậy, hoàn thiện chính sách theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm đang là yêu cầu quan trọng để nâng năng suất quốc gia.
Các chuyên gia cho rằng chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải được đo bằng năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh, với doanh nghiệp là trung tâm của quá trình thực thi.
Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là thay đổi cách thức tăng trưởng, mà trước hết là tạo dựng những điều kiện để các nguồn lực được giải phóng và chuyển hóa thành năng lực phát triển thực tế. Trong đó, thể chế phải trở thành nguồn lực và lợi thế cạnh tranh; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và con người phải trở thành những động lực trực tiếp; còn năng lực tổ chức thực hiện phải biến chủ trương, chính sách thành kết quả cụ thể. Đây là những yêu cầu then chốt để Việt Nam hình thành năng lực tăng trưởng cao, liên tục và bền vững trong giai đoạn mới.
Bước chuyển sang mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người có ý nghĩa nền tảng, quyết định năng lực cạnh tranh dài hạn của Việt Nam. Phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn PGS.TS Trần Lê Hưng, Đại học Gustave Eiffel (Pháp) về chủ đề này.
Qua 40 năm đổi mới, quy mô, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam không ngừng được nâng cao.
Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên. Tiếp đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28-7-2026 Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV "về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam" tiếp tục làm sâu sắc hơn nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số. Đây không chỉ là yêu cầu tìm kiếm thêm những động lực tăng trưởng, mà là quá trình kiến tạo một trình độ phát triển mới, dựa ngày càng nhiều hơn vào năng suất, tri thức, công nghệ, con người và năng lực quản trị quốc gia.
Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo nền tảng quan trọng để bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Bốn định hướng chỉ đạo đề ra tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện sự chuyển đổi quan trọng trong tư duy phát triển, từ tập trung cải cách tổ chức sang nâng cao năng lực vận hành của Đảng và hệ thống chính trị, tăng cường hiệu quả quản trị và thúc đẩy phát triển dựa trên tri thức, khoa học - công nghệ.
Chuyển đổi từ mô hình phát triển truyền thống sang mô hình dựa trên năng suất, tri thức, công nghệ, nguồn vốn con người có ý nghĩa quan trọng, giúp Việt Nam phát huy các thành tựu kinh tế đã đạt được.