Ngày xuân đò dọc quê nhà
Làng tôi ở tít thượng nguồn Thu Bồn. Con sông Mẹ theo cách gọi của người Chăm bắt nguồn từ đỉnh Ngọc Linh chót vót. Mùa xuân, bạn hay về làng chơi, tôi thường làm người hướng dẫn. Bạn thương tôi nên yêu quý cả ngôi làng nhỏ bé mà xinh xắn nơi tôi lớn lên.
Món quà của mùa lụt
Xe đổ đèo, thung lũng hiện ra thanh bình với những dãy nhà lô nhô triền dốc. Dòng Thu Bồn xanh biếc với bãi bờ dâu bắp bạt ngàn mùa xuân. Đỉnh núi Cà Tang sừng sững với bức màn mây trắng phủ quanh năm. Đám bạn tôi ai cũng xuýt xoa với những thửa ruộng nhỏ xíu ven đường đang ngậm sữa, xa xa là cái lò gạch cũ, xa nữa là những ngọn đồi lấp ló. Những rặng tre già sà mình sát lối đi, phe phẩy những cành lá non mỏng manh như cười chào khách lạ.

Đỉnh núi Cà Tang một sáng mùa xuân mây phủ
Dãy trụ điện ven đường dính đầy rơm khô trên ngọn. Thấy lạ, bạn hỏi ai phơi rơm trên trụ điện chi vậy? Hay gió thổi rơm bay lên trên ấy. Tôi cười bảo: “Không! Đó là chớn nước lụt của trận lụt lịch sử hồi tháng mười. Nước cuốn rơm rạ dính trên đó nhưng không ai rảnh trèo lên gỡ xuống. Rơm để đó như nhắc chừng thiên tai”. Ai cũng há hốc miệng bởi không thể tin rằng cái cánh đồng, con đường, nơi họ đang đứng hôm lụt nước lút trụ điện, lút ngọn tre, lút cả nóc nhà. Sự khốc liệt của một vùng đất mà chỉ cách đây thời gian ngắn thôi, không ai tưởng tượng được.
Tôi nói với bạn rằng người nông dân quê tôi nhiều đời nay chỉ mong mỏi một điều duy nhất, điều mà họ khấn cầu trong bài cúng đầu năm, cúng làng, cúng núi, cúng đất đai thổ thần đều cầu nguyện đó là: “Mưa thuận gió hòa”. Nhìn dòng lũ dữ quét qua xóm làng, cuốn trôi tất cả, họ đau xót vô cùng, nhưng nếu năm nào đó không có một trận lụt nho nhỏ họ cũng lo lắng không kém.
Lụt lớn kiểu “Đại hồng thủy” năm Thìn (1964) làng tôi và những ngôi làng ven Thu Bồn cả ngàn người ra đi. Trận lụt đó đi vào tiềm thức, đi vào ký ức và đi vào nỗi sợ hãi tột cùng của cư dân thung lũng qua nhiều thế hệ. Tôi nghĩ phải mất nhiều chục năm nữa khi con người thích ứng mạnh mẽ với thiên nhiên hơn nữa thì nỗi ám ảnh đó mới nguôi ngoai. Trận lũ hồi tháng mười mực nước có nơi xấp xỉ trận “năm Thìn” nhưng chẳng ai bị gì. Chứng tỏ đời sống người dân, sự chuẩn bị ứng phó đã phần nào tốt hơn và nhìn nhận chủ quan thì họ đã bắt đầu “sống chung” được.

Thượng nguồn dòng sông Thu Bồn
Nhưng mà năm nào không có lụt, người làng tôi vẫn thở dài trong âu lo. Y rằng năm đó hạn hán kéo dài, đồng khô, cỏ cháy, sông cạn dòng. Dịch bệnh trên gia súc, mùa màng sâu phá hại, chưa nói các thứ bệnh kỳ cục tấn công cả con người. Vì vậy, một trận lụt “vừa phải” cho trôi lũ chuột, giết sâu bọ, đất đai được tẩy rửa, ruộng đồng bồi phù sa, mọi thứ tươi mới sau một mùa nắng hạn, ai nấy đều vui.
Ngược dòng sông trong nắng mới
Chiếc thuyền nổ máy đưa khách từ bến đò Trung Phước (xã Nông Sơn), ngược lên thượng nguồn. Ông Bảy lái đò tuổi ngoài 50, có nụ cười hiền với chiếc răng khuyết ở bên trái, vàng khè thuốc lá, bảo rằng đoàn chúng tôi đi mùa này thật là sành du lịch. Ông lý giải rằng mùa này không chỉ nước sông xanh mát, bãi bờ mướt mắt, mà cả con tôm càng xanh, con cá ngạnh, cá bống tượng, cá bông lau, cá chạnh lấu dưới sông Thu Bồn cũng mập ú ụ.
Nói rồi ông tấp ghe vào cái xóm chài ở bến Sé mua một mớ tôm sông con nào con nấy căng mẩy còn búng tanh tách trong bao lưới. Một mớ cá lộn xộn lớn có, nhỏ có, loại như con tay trỏ, loại như ngón tay út, có con cái chỉ to bằng mút đũa ăn. Những con cá lia thia sặc sỡ sắc màu tôi chỉ muốn vớt nó lên để nuôi trong chậu. Ông thì cười bảo: “Không có nuôi nấng gì được đâu. Nó chết liền. Cầm lái hộ, để tôi kho lá nghệ cho bữa trưa”.
Tiện thể, ông mua nào cải xanh, cải bẹ, cải con, hành ngò, rau húng… một mớ rau của bãi bồi mà tôi không nhớ hết. Mấy con gà đi bộ và cả rổ khoai lang của ai đó bán ở bến sông ông cũng mua theo. Sợ chúng tôi hỏi giá, ông cười bảo: “Dân ở đây thiệt như đếm. Cô chú đừng có lo giá cả hỉ. Không ai chặt chém đâu. Họ bán răng tôi mua rứa. Chú có vui cho tôi tiền củi, tiền công là được rồi”. Ông lại cười đưa hàm răng khuyết.

Cánh đồng Trung Phước sau mùa gặt đốt rơm
Nói xong ông bảo cậu em vợ của ông cầm lái tiếp tục chạy, ông chui vào khoang giữa của chiếc ca-nô để rửa tôm cá, rửa rau, rồi bắt cái chảo lên đổ dầu nén vào khử. Cái bếp củi chẳng mấy chốc cháy phừng phừng, mùi dầu phộng quê theo gió thơm lừng bến sông. Những con tôm, con cá búng tưng bừng trong cái nồi chiên rồi im tiếng. Tôi quan sát đôi bàn tay khéo léo của ông chẳng khác nào đôi tay của anh bếp trưởng trên các tàu hải quân đi biển mà tôi từng công tác. Nhanh, gọn và chính xác trong từng động tác. Cá kho, rau luộc, cơm canh, và cả mấy con gà xé phay ông dọn ra trong nháy mắt. Cơn đói bụng xộc lên hơn cả sự bất ngờ…
Chúng tôi dùng bữa trưa và rôm rả chuyện trò. Bữa cơm đậm đà xứ sở mà riêng tôi vẫn đợi chờ hằng năm, còn bạn tôi, tôi nhìn họ xuýt xoa thì tất nhiên không thể chê vào đâu được. Thứ rượu ngâm rễ cây xuyên đá ông Bảy ngâm từ thuở nào làm chúng tôi ngây ngất say. Ông bảo cây xuyên đá này ngày trước người ta tìm ở tận bên Lào mới thấy, nhưng gần đây họ phát hiện nó mọc ở các ghềnh đá dưới chân Hòn Kẽm Đá Dừng. Ông đào về ngâm rồi uống thử thì có một mùi vị không thể nào tả được. Ông bảo: “Ta giấu nó và chỉ đãi cho khách phương xa”.
Chiếc thuyền chạy chậm qua vùng nước xanh thăm thẳm, hai bên bờ đá dựng. Bất chợt, ông Bảy tắt máy, con thuyền dịu dàng trôi tựa như người nín thở sợ dòng nước biết bị xao động, sợ cảnh đẹp chợt tan đi mau.

Thượng nguồn Thu Bồn, sát danh thắng Hòn Kẽm Đá Dừng nổi tiếng xứ Quảng - Ảnh: LQA
Rồi ông tìm đâu cây guitar cũ rích, cần đàn gần như mòn hẳn. Giọng ông ngân lên một giai điệu ngọt ngào lanh lảnh hút hồn. Tiếng hát vụt qua mặt sông, tràn lên đôi bờ, rồi lượn qua những cánh rừng im phăng phắc. Chúng tôi xúm lại quanh ông, lúc đầu nghe ông hát những bài của ông, sau đó ông hát theo yêu cầu. Trời ạ! Hình như ông già này sinh ra cho dòng sông hoặc ngược lại, dòng sông sinh ra ông và cho câu hát. Cứ thế ông hát như tiếng hát như rút ra từ máu thịt, từ tâm can cốt tủy hát ra, ông quằn quại theo từng lời mà tưởng chừng như nước mắt ông rơi ra theo từng nốt nhạc.
Chiều xuống dần, ánh nắng le lói gác bên kia ngọn núi. Chúng tôi chào ông Bảy trong bịn rịn để bước lên bờ. Bạn tôi mỗi người dành cho ông một cái ôm và chúng tôi hẹn nhau một mùa xuân khác, một chuyến đò dài hơn.
Nguồn Một Thế Giới: https://1thegioi.vn/ngay-xuan-do-doc-que-nha-246511.html











