Kiểm định giáo dục Đại học: Vẫn chưa đi cùng chất lượng thực tế?

Thống kê mới nhất của Vụ GDĐH (Bộ GD&ĐT), cả nước đã có 123 cơ sở GDĐH và 5 trường CĐSP đạt tiêu chuẩn kiểm định theo bộ Tiêu chuẩn kiểm định chất lượng GDĐH của Việt Nam, chiếm khoảng 52% tổng số các trường ĐH, học viện trong cả nước. Có 7 trường ĐH được nước ngoài đánh giá và công nhận theo tiêu chuẩn đánh giá cơ sở giáo dục của Hội đồng Cấp cao về đánh giá nghiên cứu và GDĐH Pháp (HCERES) và Tiêu chuẩn mạng lưới các trường ĐH Đông Nam Á (AUN-QA). Tuy nhiên, công tác kiểm định vẫn còn nhiều tồn tại.

Không phải cứ kiểm định là đạt chuẩn

Quy trình kiểm định có 4 bước: Tự đánh giá, đánh giá ngoài, thẩm định và công nhận kết quả đánh giá. Sau khi hoàn thành tự đánh giá, nhà trường gửi báo cáo tự đánh giá cho cơ quan chủ quản và Cục Quản lý chất lượng (Bộ GD&ĐT) để báo cáo.

Nếu bảo đảm về cấu trúc và hình thức của báo cáo theo hướng dẫn, Cục sẽ cập nhật trên Cổng thông tin điện tử của Bộ GD&ĐT. Sau đó, nhà trường sẽ liên hệ với tổ chức kiểm định để đăng ký đánh giá ngoài, gửi hồ sơ tự đánh giá cho tổ chức kiểm định để thẩm định.

Theo ông Lê Mỹ Phong, Phó Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng, kiểm định không đồng nghĩa với chất lượng đào tạo. Kiểm định là để xác định điều kiện tối thiểu cho các trường ĐH, CĐ hoạt động. Kết quả kiểm định vừa qua cho thấy, điều kiện đảm bảo chất lượng của các trường đã được kiểm định có sự cách biệt. Thống kê từ 117/123 trường ĐH đạt kiểm định thì chỉ có 2 trường đạt trên 90% tiêu chí (chiếm 1,7%). Trong khi đó, mức đạt tối thiểu để một cơ sở giáo dục ĐH được công nhận kiểm định là 80,33%. Và ở mức tối thiểu này, có tới 25 trường ĐH, chiếm 21,4%.

Có tới 50% các trường ĐH được đánh giá chưa đạt 5 tiêu chí khá quan trọng đối với một cơ sở giáo dục ĐH. Đó là: Chương trình đào tạo được định kỳ đánh giá và thực hiện cải tiến chất lượng dựa trên kết quả đánh giá; Yêu cầu đủ số lượng giảng viên để thực hiện chương trình đào tạo và nghiên cứu khoa học, giảm tỷ lệ trung bình sinh viên/giảng viên; Yêu cầu mức độ đáp ứng của thư viện, thư viện điện tử; Có đủ diện tích đất và diện tích mặt bằng tổng thể phục vụ cho hoạt động của các cơ sở giáo dục.

Cũng đã có 5 trường được đánh giá ngoài nhưng chưa đủ điều kiện để được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng. Ở những trường này, tỷ lệ số tiêu chí đạt khi đánh giá ngoài không tới 80% nên đã không đề nghị tổ chức kiểm định thực hiện việc thẩm định kết quả đánh giá.

Năm 2019, Bộ GD&ĐT đã thành lập các đoàn kiểm tra, thanh tra việc đánh giá và kiểm định chất lượng GDĐH tại 2 Trung tâm kiểm định chất lượng và 4 cơ sở GDĐH. Tiến hành thanh tra đột xuất điều kiện đảm bảo công tác tuyển sinh của 4 trường; công tác tuyển sinh, đào tạo trình độ ĐH và văn bằng 2 tại 3 đơn vị; đã rà soát hoạt động liên kết đào tạo của các cơ sở GDĐH. Qua rà soát, một số vấn đề nổi cộm cần tập trung chấn chỉnh, xử lý.

Bộ GD&ĐT cũng cho rằng hiện đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý chất lượng của các sở GDĐT còn thiếu; việc tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn còn hạn chế. Đối với các cơ sở GDĐH hiện mới tập trung chủ yếu vào kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục. Tiến độ thực hiện kiểm định chất lượng chương trình đào tạo còn chậm so với kế hoạch chung của Bộ.

Quy trình kiểm định có 4 bước nhưng không phải cứ trường nào được kiểm định là đạt chuẩn. Ảnh minh họa

Các trường cần hoàn thiện các điều kiện đảm bảo “bên trong”

Về kiểm định chương trình đào tạo, có 76 chương trình đào tạo của 23 trường ĐH đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá, được kiểm định theo tiêu chuẩn trong nước. Trong đó, có 19 chương trình được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng do 3 trong số 5 trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục trong nước thực hiện. Số chương trình được nước ngoài đánh giá là 64.

Báo cáo của Bộ GD&ĐT cũng cho biết, tới ngày 30-6, có 128 chương trình đào tạo của 24 trường ĐH, học viện được đánh giá và công nhận theo tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.

Nhìn lại công tác bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đối với các cơ sở GDĐH, CĐSP và TCSP năm 2019, Bộ GD&ĐT khẳng định đã và đang đang được đẩy mạnh theo hướng tiếp cận với khu vực và quốc tế. Bộ GD&ĐT sẽ tiếp tục thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra và tới đây cố gắng hoàn thiện cơ sở dữ liệu số về các điều kiện đảm bảo chất lượng của các cơ sở giáo dục ĐH để việc quản lý tốt hơn.

Ông Mai Văn Trinh- Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng (Bộ GD&ĐT) cho rằng, các trường cần chăm lo phát triển, hoàn thiện điều kiện đảm bảo chất lượng bên trong, thể hiện của nó rất cụ thể là các điều kiện đảm bảo chất lượng trên một số nhóm vấn đề.

Đầu tiên là cơ chế quản lý; đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ cán bộ giảng dạy; cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ đào tạo; trách nhiệm với sinh viên để sao cho các em ra trường có việc làm. Công khai các điều kiện đảm bảo chất lượng của trường và phải chịu trách nhiệm trước xã hội với những thông tin công khai đó. Các nhà trường đồng thời phải tập trung kiểm định chất lượng, trong đó đặc biệt quan tâm kiểm định các chương trình đào tạo.

Cũng theo ông Mai Văn Trinh: Khoản 5 Điều 33 Luật GDĐH sửa đổi đã quy định rõ: Nếu một chương trình đào tạo trong quá trình đào tạo không thực hiện đánh giá và kiểm định chất lượng hoặc kiểm định chất lượng nhưng không đạt thì phải dừng quá trình tuyển sinh tiếp theo. Đối với cơ sở giáo dục đào tạo, nếu không đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng thì không được tăng chỉ tiêu tuyển sinh.

Phan Thủy