Giãn dân nội đô: Tái cấu trúc không gian phát triển Thủ đô
Những ngày Tết, khi mật độ dân cư và phương tiện tại trung tâm Hà Nội giảm mạnh, giao thông vận hành thông suốt hơn thường lệ, qua đó cho thấy áp lực lớn mà hạ tầng nội đô đang phải gánh chịu.
Trong Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm, giãn dân khỏi nội thành vì thế được đặt ra như một yêu cầu mang tính cấu trúc, nhằm tái thiết không gian đô thị, nâng cao chất lượng sống và tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Từ nhu cầu thực tiễn đến nền tảng thể chế
Trong tiến trình phát triển đô thị, Hà Nội đã từng bước thực hiện các giải pháp phân bố lại dân cư nhằm giảm tải khu vực lõi. Từ sau năm 1954 và các giai đoạn sau chiến tranh, thành phố đã từng bước đưa một bộ phận cư dân ra khỏi khu phố cũ chật hẹp. Trong khoảng 20 năm trở lại đây, quá trình dịch chuyển tiếp tục diễn ra mạnh mẽ khi nhiều khu đô thị mới hình thành ở vành đai phía Tây và phía Nam.

Một góc Thủ đô Hà Nội. Ảnh minh họa: Phạm Hùng
Tuy nhiên, theo KTS Trần Huy Ánh, Ủy viên Thường vụ Hội Kiến trúc sư Hà Nội, những giai đoạn phát triển trước đây còn thiếu sự đồng bộ về cấu trúc không gian. Thực tế, một số khu đô thị phát triển dọc trục giao thông hướng tâm, song trường học, bệnh viện, không gian công cộng chưa theo kịp tốc độ tăng dân số khiến áp lực giao thông vẫn dồn về trung tâm.
Điểm khác biệt hiện nay, theo TS. KTS. Đào Ngọc Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam là giãn dân được đặt trong tổng thể Quy hoạch Thủ đô thời kỳ mới, cùng với Luật Thủ đô và các nghị quyết của Trung ương. “Đây là bước đi có chiến lược, có cơ sở pháp lý và nguồn lực thực hiện, không còn là giải pháp tình huống” – KTS Đào Ngọc Nghiêm nhấn mạnh.
Thực tiễn cho thấy, 4 quận nội đô lịch sử cũ gồm: Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng đã duy trì mật độ dân số cao trong nhiều năm. Hạ tầng giao thông quá tải, nhiều tuyến đường có mặt cắt hẹp; hệ thống thoát nước ở một số khu vực xuống cấp; hàng loạt chung cư cũ xây dựng từ thập niên 1960–1990 đã hết niên hạn sử dụng.
TS. KTS. Đào Ngọc Nghiêm dẫn ví dụ, khu phố cổ Hoàn Kiếm là nơi quỹ đất công cộng hạn chế trong khi mật độ cư trú cao. Giãn dân tại đây là điều kiện để mở rộng không gian công cộng, bảo tồn di sản và cải thiện chất lượng môi trường sống.
Một vấn đề khác là cải tạo chung cư cũ. KTS Đào Ngọc Nghiêm cho rằng, nếu chỉ xây mới cao tầng hơn mà không tính toán lại mật độ dân số và hạ tầng đi kèm, khu vực nội đô sẽ tiếp tục quá tải. “Do đó, cải tạo phải đi đôi với điều chỉnh quy mô dân cư, đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội”-ông Nghiêm nêu.
Bên cạnh đó là lộ trình di dời cơ sở sản xuất, bệnh viện, trường đại học ra khỏi nội thành. Theo các chuyên gia, đây là giải pháp quan trọng để giảm áp lực giao thông và phân bổ lại dòng người di chuyển hằng ngày, song cần thực hiện nhất quán, tránh tình trạng chậm tiến độ kéo dài.
Ở góc độ quy hoạch không gian, KTS Trần Huy Ánh cho rằng việc di dời cần ưu tiên các khu vực có điều kiện ở thấp, nguy cơ mất an toàn và ô nhiễm môi trường. Ông nhấn mạnh, cải tạo đô thị phải đặt yếu tố an sinh và an toàn cư dân lên hàng đầu.
Các điều kiện quyết định
Theo các chuyên gia, một trong những điều kiện tiên quyết để giãn dân thành công là phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng khung, đặc biệt là giao thông công cộng khối lượng lớn.
Các tuyến vành đai, trục hướng tâm và đường sắt đô thị không chỉ giải quyết nhu cầu đi lại mà còn định hình cấu trúc đô thị đa trung tâm. Khi thời gian di chuyển được rút ngắn và chi phí tiếp cận dịch vụ giảm xuống, người dân có thể lựa chọn sinh sống tại các khu vực mới mà vẫn bảo đảm kết nối thuận lợi với toàn đô thị.

Việc giãn dân cần gắn với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là giao thông công cộng. Ảnh: Phạm Hùng
KTS Trần Huy Ánh chia sẻ, mỗi khu đô thị mới cần được quy hoạch như một “hạt nhân phát triển” hoàn chỉnh, thay vì chỉ là nơi cung cấp nhà ở. Điều đó đòi hỏi phải tích hợp đồng bộ việc làm, giáo dục, y tế, dịch vụ thương mại và không gian công cộng. Nếu không, quá trình giãn dân sẽ chỉ tạo ra sự dịch chuyển cư trú về mặt cơ học, còn hoạt động kinh tế–xã hội vẫn tập trung về khu vực lõi.
Ở góc độ quản lý, TS. KTS. Đào Ngọc Nghiêm lưu ý, giãn dân không chỉ là bài toán kỹ thuật mà là vấn đề xã hội có tác động sâu rộng. Việc di dời cần được tính toán thận trọng, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, đồng thời bảo đảm điều kiện sống thực chất tại nơi ở mới. Thực tế cho thấy, nếu khu tái định cư thiếu trường học, cơ sở y tế, việc làm và dịch vụ thiết yếu, mục tiêu ổn định dân cư lâu dài sẽ khó đạt được.
Các chuyên gia cũng cho rằng, quá trình tái cấu trúc không gian là cơ hội để định hình lại mô hình phát triển kinh tế đô thị. Khi các khu vực mới hình thành được hệ sinh thái kinh tế riêng, từ công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ sáng tạo đến phát huy giá trị làng nghề, áp lực phụ thuộc vào khu vực nội đô sẽ giảm dần, tạo thế phát triển cân bằng hơn cho toàn thành phố.
Giãn dân nội đô vì thế không đơn thuần là giảm tải dân số. Đó là quá trình tái cấu trúc toàn diện không gian phát triển, gắn với cải cách thể chế, đầu tư hạ tầng và tổ chức lại chức năng đô thị. Khi mật độ cư trú khu vực lõi được điều chỉnh hợp lý, trung tâm Thủ đô sẽ có điều kiện phát huy vai trò là không gian di sản, văn hóa và dịch vụ chất lượng cao. Đồng thời, các khu vực mở rộng sẽ trở thành động lực tăng trưởng mới, góp phần xây dựng cấu trúc đô thị cân bằng và bền vững.
Trong tầm nhìn 100 năm, giãn dân nội đô không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà là lựa chọn chiến lược, thể hiện quyết tâm của Hà Nội trong việc tổ chức lại không gian phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả và vì người dân.











