Đổi thay từ một Nghị quyết
Xác định tầm quan trọng của Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (Nghị quyết tam nông), những năm qua, cấp ủy, chính quyền huyện Thanh Sơn đã tập trung nhiều giải pháp, xây dựng các chương trình, kế hoạch sáng tạo, mang tính đột phá, phù hợp điều kiện thực tiễn của địa phương với tinh thần công khai, dân chủ để người dân thực sự là chủ thể trong quá trình thực hiện.

Sản phẩm thịt chua Thanh Sơn được sản xuất theo quy trình an toàn, đảm bảo chất lượng, truy xuất nguồn gốc, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Nhằm đưa Nghị quyết vào cuộc sống, Thanh Sơn đã vận dụng linh hoạt các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, khai thác tối đa mọi tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế. Là huyện miền núi, diện tích đất nông, lâm nghiệp chiếm 2/3 diện tích đất tự nhiên, đây là một lợi thế để Thanh Sơn đầu tư cho phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản. Nhận diện và phát huy tốt tiềm năng đó, huyện từng bước khắc phục khó khăn, bám sát quy hoạch ngành, lĩnh vực của tỉnh, tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản bền vững theo hướng hiện đại.
Cùng với đầu tư nguồn lực xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất, các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp được cấp ủy, chính quyền huyện chỉ đạo, điều hành một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế, đáp ứng nhu cầu phát triển theo từng giai đoạn và mục tiêu cơ cấu lại ngành. Tổng kinh phí huy động từ các chương trình, dự án đầu tư qua ngân sách nhà nước và các nguồn lực khác trong giai đoạn 2008-2021 đầu tư cho phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản của huyện đạt trên 100 tỉ đồng... tạo động lực quan trọng thúc đẩy nông, lâm nghiệp Thanh Sơn phát triển.
Bên cạnh đó, huyện đẩy mạnh rà soát, quy hoạch các vùng sản xuất tập trung nên đã thu hút được một số doanh nghiệp, HTX, hộ gia đình đầu tư quy mô lớn, phát triển theo hướng hàng hóa. Huyện hiện có tám doanh nghiệp, sáu HTX sản xuất chế biến chè ứng dụng khoa học công nghệ an toàn theo chuỗi, hình thành một số nhà máy chế biến chè, gỗ tại các xã Văn Miếu, Sơn Hùng, Địch Quả, Thục Luyện và thị trấn Thanh Sơn. Đồng thời, tiếp tục duy trì các làng nghề hiện có, khuyến khích phát triển kinh tế tập thể với nòng cốt là HTX. Đến nay, toàn huyện có 24 HTX đang hoạt động theo Luật và bảy làng nghề. Nhiều mô hình kinh tế của huyện đã được xây dựng thành công, có bước phát triển cả về số lượng, quy mô và đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo được sự bứt phá về năng suất, sản lượng cũng như giá trị thu nhập. Hiện huyện có 15 sản phẩm OCOP, trong đó chín sản phẩm đạt ba sao và sáu sản phẩm đạt bốn sao.
Cùng với đẩy mạnh phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, các lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ ở khu vực nông thôn cũng được huyện tăng cường với các ngành nghề chủ yếu như sản xuất và chế biến chè, chế biến lâm sản, sản xuất đồ gỗ nội thất, may mặc, cơ khí... Từ chỗ chưa có cụm công nghiệp tập trung, đến nay, huyện đã có cụm công nghiệp Thục Luyện và đang tiếp tục hoàn thiện cụm công nghiệp Thắng Sơn, từ đó thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư vào địa phương. Trên địa bàn huyện có gần 1.250 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất CN-TTCN, thu hút, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 5.700 lao động và hơn 4.000 lao động thời vụ. Tốc độ tăng trưởng bình quân ngành CN-TTCN trong những năm gần đây đã đạt trên 9%. Cơ sở hạ tầng thương mại, dịch vụ tiếp tục được quan tâm đầu tư xây dựng, hệ thống phân phối hàng hóa ngày càng mở rộng, đa dạng, đáp ứng tiêu dùng ngày càng cao của người dân nông thôn.
Một minh chứng khá rõ nét, khẳng định sự quyết tâm của cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị cùng sự đoàn kết, nỗ lực của nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện Thanh Sơn trong thực hiện Nghị quyết là việc tập trung đầu tư hiệu quả các nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Với sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ, nhận được sự hưởng ứng tham gia tích cực của nhân dân, chương trình đã huy động tổng giá trị đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn gần 2.270 tỉ đồng. Đến nay, toàn huyện có 4/23 xã và 103 khu dân cư đạt chuẩn nông thôn mới, tỉ lệ cứng hóa đường giao thông nông thôn của huyện đạt gần 75%. Hạ tầng thủy lợi từng bước được đầu tư xây dựng, nâng cấp sửa chữa, tỉ lệ kênh mương được kiên cố đạt gần 40%, tạo năng lực tưới ổn định cho diện tích đất sản xuất nông nghiệp hàng năm trên 3.000ha/vụ. Mạng lưới điện nông thôn phát triển nhanh, 100% số xã có điện lưới quốc gia. Điện, đường, trường, trạm phát triển...là nền tảng tạo động lực để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống người dân, thu nhập bình quân đầu người của huyện đạt gần 34 triệu đồng/người/năm, tỉ lệ hộ nghèo giảm dần theo từng năm.
Phương Thảo
Nguồn Phú Thọ: https://baophutho.vn//xay-dung-dang/doi-thay-tu-mot-nghi-quyet/186887.htm










