Dấu ấn vàng xứ Quảng

Giữa miền trung du xứ Quảng, Bồng Miêu hiện diện như dấu ấn của một thời khai mở công nghiệp. Nơi mồ hôi và máu của phu vàng thấm vào lòng đất, để lại ký ức về một giai đoạn khai thác vàng ở Trung Kỳ xưa.

Toàn cảnh khu nhà máy luyện quặng vàng Bồng Miêu đầu thế kỷ 20. Ảnh: Tư liệu

Toàn cảnh khu nhà máy luyện quặng vàng Bồng Miêu đầu thế kỷ 20. Ảnh: Tư liệu

Dấu ấn thời Pháp thuộc

Từ lâu, người dân xứ Quảng đã biết khai thác vàng ở Bồng Miêu. Những vỉa quặng lộ thiên, dòng “sông Vàng” và dấu tích hầm đào thủ công còn sót lại đã cho thấy nơi đây từng là “cánh đồng vàng” của xứ Quảng. Cuối thế kỷ 19, thực dân Pháp nhanh chóng nhận ra giá trị ấy và biến vùng Bồng Miêu thành một trung tâm khai thác công nghiệp quy mô lớn.

Trong bài viết “Les Mines d’or de Bong-Miêu (Annam)” đăng trên Tập san kinh tế Đông Dương số ra ngày 1/8/1901 cho biết: “Bồng Miêu là một làng nhỏ thuộc tỉnh Quảng Nam, lọt giữa một dãy đồi, cách Tourane 100 km về phía nam theo đường chim bay và cách biển 25 km. Tourane là cảng gần nhất. Từ Tourane, ta đến Tam Kỳ, nơi có mỏ Bồng Miêu, bằng 2 cách: đường bộ hoặc đường thủy”.

Ngày 26/10/1896, Công ty Khai thác mỏ Bồng Miêu được thành lập tại Paris, trụ sở ở số 7 đường Port-Mahon, với vốn ban đầu 800.000 franc và thời hạn hoạt động 50 năm. Mục tiêu của công ty là “nghiên cứu, mua lại, khai thác và phát triển các mỏ tại làng Bồng Miêu”. Đây là một trong những dự án đầu tiên đưa kỹ nghệ châu Âu vào vùng đất Trung Kỳ còn hoang sơ.

Trong báo cáo năm 1899, Doumer đã viết: “Từ năm 1898, các hoạt động tại mỏ Bồng Miêu được đẩy mạnh. Các hoạt động thăm dò, khai thác mới được tiến hành ở khu vực Núi Kẽm. Các hầm lò có chiều dài 133m, sản lượng đạt 390 tấn quặng, đập thủy điện cao 60m và đường ống dẫn nước 250m đã được xây dựng. Lao động chủ yếu là tù nhân bản xứ do triều đình Huế cung cấp.

Sau đó, công ty nhanh chóng mở rộng sang các khu vực Dốc Bà, Sa Rô, Cổ Bái... Hệ thống máy nghiền quặng, lò nung, phòng thí nghiệm, nhà ở cho kỹ sư châu Âu, và cả văn phòng điện tín Tam Kỳ được thiết lập để kết nối với Đà Nẵng. Đến đầu thế kỷ 20, một khu công nghiệp thu nhỏ đã hình thành giữa rừng núi Bồng Miêu.

Đãi vàng Bồng Miêu năm 1898. Ảnh: André Salles

Đãi vàng Bồng Miêu năm 1898. Ảnh: André Salles

Cơn sốt khai thác vàng đầu thế kỷ 20

Năm 1900, Hiệp hội Địa lý, Thương mại Paris và sau đó là Bản tin Kinh tế Đông Dương (1901) cho đăng tải báo cáo khá chi tiết về tình hình khu mỏ Bồng Miêu của kỹ sư Louis de Saugy. Theo Saugy, mỏ vàng Bồng Miêu và “cánh đồng vàng”, thực sự là một điều thú vị đối với bất kỳ ai quan tâm đến việc khai khoáng và càng hấp dẫn hơn đối với những người đến khu vực này vì mục đích nghiên cứu chuyên sâu.

Các nhà nghiên cứu người Pháp cho rằng, vàng ở Bồng Miêu xuất hiện dưới hai hình thức: dạng tự do có sẵn trong các trầm tích phù sa cát vàng; và dạng nằm lẫn trong các lớp khoáng hóa. Ở dạng này, vàng còn ở tình trạng nguyên chất, dưới dạng các mảnh vụn hoặc hạt nằm trong một lớp thạch anh, hoặc ở dạng kết hợp với các kim loại của các loại khoáng chất khác, như galena hoặc pyrit vàng.

Bản tin Kinh tế Đông Dương số ra ngày 1/1/1902 cho biết, trang thiết bị của nhà máy được cải thiện đều đặn, các kho chứa quặng đã được xây dựng. Tháng 7/1901, 676 tấn quặng đã được khai thác, với hàm lượng vàng dao động từ 20 - 28 gr/tấn. Hai máy nghiền đã nghiền 175.945 kg, tạo ra 15.725 kg quặng tinh, với hàm lượng vàng trung bình 120 gr/tấn. Tháng 8/1901, kết quả thu được cũng không kém phần khả quan, 138.950 kg quặng đã được hai máy nghiền tạo ra 13.687 kg quặng tinh với hàm lượng vàng đạt 120 gr/tấn và bạc 350 gr/tấn.

Năm 1903, nhà máy, máy móc, kho xưởng, phòng thí nghiệm, nhà ở cho nhân viên ở Nhà máy vàng Bồng Miêu đã xây dựng hoàn tất và bước vào giai đoạn sản xuất tích cực. Mỗi tháng sản xuất đều đặn 10.000 - 12.000 franc vàng. Sản lượng năm 1905 đạt 74,3 kg vàng và 33,8 kg bạc, trị giá hơn 256.000 franc, với hơn 340 công nhân bản xứ và 6 kỹ sư châu Âu.

Cơn sốt vàng đầu thế kỷ 20 khiến Bồng Miêu trở thành “vương quốc vàng” của Trung Kỳ. Tập san của Nha Thuộc địa năm 1908 đánh giá đây là “một trong những cơ sở khai khoáng kiểu mẫu ở Đông Dương”, còn đại diện công ty khẳng định: “Sản xuất 25.000 - 30.000 franc vàng mỗi tháng, mục tiêu năm tới là 500.000 franc”.

Đi bằng đường thủy lên mỏ vàng Bồng Miêu năm 1898. Ảnh: André Salles

Đi bằng đường thủy lên mỏ vàng Bồng Miêu năm 1898. Ảnh: André Salles

Dư vang một thời vàng

Sau năm 1914, khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, tài chính công ty cạn kiệt. Đến 1919, mỏ ngừng hoạt động và bị bán lại cho doanh nhân Georges Leroy - người sáng lập Công ty Khai thác mỏ và Nông nghiệp Đông Dương vào năm 1929 với vốn 1,3 triệu franc.

Theo tạp chí Sự thức tỉnh của kinh tế Đông Dương năm 1933, Leroy cho tái thiết toàn bộ khu mỏ với máy nén khí, tuabin thủy điện, đường cáp vận chuyển, cùng nhà máy bê tông cốt thép giữa rừng. Hơn 500 công nhân được huy động, ánh điện đầu tiên bừng sáng giữa thung lũng Bồng Miêu. Năm 1934, sản lượng đạt 214,5 kg vàng; 1935 là 258,5 kg; và 1937 vẫn còn 110 kg vàng cùng 45 kg bạc.

Tuy nhiên, khủng hoảng kinh tế toàn cầu khiến mọi hoạt động dừng lại. Nhà địa chất Fernand Blondel trong La Géologie et les Mines de l’Indochine française năm 1932 ghi: “Mỏ vàng Bồng Miêu từng sản xuất khoảng 100 kg vàng mỗi năm trong giai đoạn hưng thịnh nhất (1908 - 1917), nhưng đã suy tàn vì giá vàng giảm và kiệt quệ tài chính”.

Từ sau 1945 đến nay, khai thác vàng Bồng Miêu đã trải qua hành trình nhiều thăng trầm. Dấu tích những hầm lò xưa như một “dấu ấn vàng” giữa miền trung du xứ Quảng.

HOÀI NAM

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/dau-an-vang-xu-quang-3321553.html