Chuyện đặt tên làng xưa ở xứ Quảng

Tên làng (thôn, xã, phường, châu) là một thành tố quan trọng của bản sắc văn hóa. Không đơn thuần là tên đơn vị hành chính, tên làng là ký ức, sợi dây kết nối, nguồn lực tinh thần vô giá của cộng đồng dân cư trong làng.

Tên gọi của những ngôi làng xứ Quảng góp phần làm nên bản sắc của làng . Ảnh: L.T.K

Tên gọi của những ngôi làng xứ Quảng góp phần làm nên bản sắc của làng . Ảnh: L.T.K

Làng người Việt ở Quảng Nam được thành lập cùng với quá trình xác lập cương vực của quốc gia Đại Việt bắt đầu từ thế kỷ 19. Tuy nhiên, tài liệu sớm nhất đề cập đến tên các làng ở Quảng Nam là sách Ô Châu cận lục của Dương Văn An được viết vào năm 1553. Đây là thư tịch cổ quý giá ghi chép 66 làng vùng Nam Hải Vân thuộc phía Bắc của tỉnh Quảng Nam xưa, trong đó có nhiều làng nổi tiếng như Phiếm Ái, Ái Nghĩa (Ái Đái), Túy Loan (Thúy Loan), Cẩm Toại (Kim Toại), Cẩm Lệ, Câu Nhi…

Các làng bấy giờ thuộc huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa. Từ đó, qua nhiều tư liệu, chúng ta được biết thêm tên nhiều làng ở Quảng Nam và cho đến đầu thế kỷ 19 (năm 1812), toàn tỉnh có 1.046 làng (xã, thôn, phường, châu, ấp, thuộc, sách, tộc, trại, giáp…) và đầu thế kỷ 20 (năm 1910) là 1.051 làng (xã, thôn), không kể các làng thuộc miền núi cao.

Qua tên gọi của các làng, chúng ta biết những nguyên tắc cơ bản đặt tên làng của người Quảng Nam xưa, thường mang đậm dấu ấn văn hóa, lịch sử và đặc điểm tự nhiên của xứ Quảng.

Dựa trên đặc điểm địa hình, môi trường, tên thường gắn liền với các yếu tố tự nhiên nổi bật tại nơi cư trú như sông, núi, ao, hồ, cây cối (Hà Tân, Thạc Gián, Mỹ Sơn, Thạch Kiều, Thanh Lâm, Bích Ngô…); dựa trên nguồn gốc họ, tộc hoặc nơi xuất phát di cư để nhớ về cội nguồn (Thanh Chiêm, Thanh Hà, Nghi Sơn…); sự kết hợp giữa chữ Nôm và chữ Hán, cốt lấy dạng tự đẹp và ý nghĩa tốt (Hải Châu, Cẩm Toại, Cẩm Sa,…); dựa trên sự mong muốn, thể hiện khát vọng về một cuộc sống bình an, no đủ, hạnh phúc và phát triển (Bình An, Trường Xuân, An Hòa, Hội An…); dựa trên nét văn hóa, lịch sử (Liễu Trì…).

Một nguyên tắc quan trọng được thế hệ cha ông tuân thủ chặt chẽ cho tất cả các làng là sự đồng thuận và tôn trọng, tên làng được các cụ cao niên, người uy tín trong cộng đồng bàn thảo kỹ lưỡng và đạt được sự đồng thuận cao. Tuân thủ theo những nguyên tắc trên nên tên làng ở Quảng Nam xưa đều có ý nghĩa, nghe tên đã hiểu phần nào về vùng đất, con người nơi đó.

Từ khi xuất hiện, tên làng ở Quảng Nam ít khi thay đổi, tồn tại lâu đời, trừ một số trường hợp do trùng tên của vua, chúa, hoàng hậu (Kim Toại đổi thành Cẩm Toại, Hoa Thử đổi thành Phong Thử, Kim Quất thành Thanh Quất - Thanh Quýt, Kim Sa thành Cẩm Sa…) hoặc do chia tách làng nhưng vẫn giữ những thành tố cơ bản và ngữ nghĩa, đa phần bổ sung thêm phương hướng, vị trí (Hòa Khuê thành Hóa Khuê Đông, Hóa Khuê Tây...).

Cũng do tuân thủ những nguyên tắc trên nên nhiều làng trùng nhau ở một, hai chữ, nhất là liên quan đến đặc điểm tự nhiên và ước muốn những điều tốt đẹp. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu khi nghiên cứu làng xã ở Quảng Nam vào đầu thế kỷ 19 đã làm một thống kê khá công phu về tên của các làng và rút ra kết luận về sự trùng nhau khá lý thú chữ đầu tiên của tên các làng.

Làng Đại Bình ở đầu nguồn sông Thu. Ảnh: M.H

Làng Đại Bình ở đầu nguồn sông Thu. Ảnh: M.H

Theo đó, có 26 chữ liên quan đến tên đầu của 674 làng trong tổng số 1.046 làng. Đơn cử như có đến 92 làng bắt đầu bằng chữ Phú (Phú Quý, Phú Thượng, Phú Hưng, Phú Thuận…); 82 làng bằng chữ An (An Bình, An Tường, An Lễ, An Tráng…); 52 làng bắt đầu bằng chữ Phúc (Phúc An, Phúc Khương, Phúc Kiều…) hay Phước (Phước Hà, Phước Lâm, Phước Tường…); 40 làng bắt đầu bằng chữ Bình (Bình An, Bình Yên, Bình Khê…).

Qua cách đặt tên làng, cho thấy người Quảng Nam xưa chủ yếu thiên về mong muốn, mơ ước cuộc sống bình an, no ấm… Nhìn chung, tên làng của người Quảng Nam xưa là tấm bia lịch sử, văn hóa lưu giữ gốc gác và tâm hồn của cộng đồng dân cư. Do vậy, mỗi khi đặt tên làng, người Quảng Nam xưa luôn thận trọng, cân nhắc kỹ và tuân thủ các nguyên tắc cơ bản.

Thiết nghĩ, kế thừa cách đặt tên của người xưa là điều cần làm trong quá trình sắp xếp đơn vị hành chính hiện nay, nếu không sẽ làm phai nhòa lịch sử, đứt gãy văn hóa và sự ràng buộc giữa các thế hệ.

PHAN XUÂN QUANG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/chuyen-dat-ten-lang-xua-o-xu-quang-3333641.html