Chủ động tín dụng giữ nhịp xuất khẩu gạo
Ngay sau Tết Nguyên đán, vụ lúa đông xuân 2025-2026 bước vào cao điểm thu hoạch tại nhiều tỉnh Nam bộ. Khi áp lực tiêu thụ tăng mạnh trong giai đoạn rộ vụ, các NHTM cũng thúc đẩy tín dụng kịp thời để doanh nghiệp thu mua, tạm trữ, phục vụ các đơn hàng xuất khẩu đầu năm.

Tín dụng cho lúa gạo kịp thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu mua lúa của nhà nông
Ngân hàng hỗ trợ vun vựa lúa
Hai tháng đầu năm 2026, tín dụng đối với lĩnh vực nông – lâm – thủy sản, đặc biệt là lúa gạo, được các NHTM tại nhiều tỉnh phía Nam tăng tốc giải ngân. Theo NHNN chi nhánh Khu vực 13, đến cuối tháng 2/2026, tại Đồng Tháp và Tây Ninh, dư nợ cho vay sản xuất, chế biến, xuất khẩu lúa gạo đạt trên 70.200 tỷ đồng, tăng 29,5%.
Bên cạnh đó, NHNN khu vực Cần Thơ và Vĩnh Long cho biết, dư nợ lĩnh vực nông – lâm – thủy sản đạt gần 83.700 tỷ đồng, tạo “bệ đỡ” vốn cho hơn 247.000 ha lúa đông xuân ở Cần Thơ và gần 100.000 ha tại Vĩnh Long đang vào kỳ thu hoạch.
Đại diện Agribank khu vực Tây Nam Bộ cho biết, cho vay ngành lúa gạo đang được triển khai mạnh tại hầu hết các chi nhánh. Tại Agribank Kiên Giang và Tiền Giang, dư nợ lĩnh vực này đạt 17.000–18.000 tỷ đồng, tập trung vào các mô hình liên kết chuỗi giá trị.
Với Đề án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao phát thải thấp, Agribank đã cho vay gần 5.000 khách hàng với dư nợ lên tới vài chục nghìn tỷ đồng. Tại TP. Cần Thơ, các chi nhánh ngân hàng đã tiếp cận gần 500 doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và khoảng 5.000 hộ dân thành viên đề án, cung ứng vốn với lãi suất ưu đãi thấp hơn 1–2% so với thông thường.
Theo Agribank chi nhánh An Giang, mô hình cho vay theo chuỗi giá trị đang phát huy hiệu quả. Ngân hàng lựa chọn doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu làm “đầu tàu”, cấp hạn mức tín dụng bao gồm cả hợp tác xã và nông hộ vệ tinh. Hợp đồng bao tiêu và dòng tiền bán hàng trở thành cơ sở thẩm định chứ không phụ thuộc hoàn toàn vào tài sản đảm bảo. Cách làm này của ngân hàng vừa giảm chi phí vốn, vừa hạn chế nguy cơ “được mùa rớt giá”.
Ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) nhận định, năm 2025, các NHTM đã hỗ trợ hiệu quả cho doanh nghiệp nông nghiệp, đặc biệt là ngành lúa gạo. Bước vào vụ đông xuân 2026, nhiều ngân hàng tiếp tục chủ động cung ứng vốn, giúp doanh nghiệp kịp thời thu mua nguyên liệu phục vụ xuất khẩu.
Theo ông Nam, vụ đông xuân năm nay, nhiều địa phương giảm diện tích nhưng tăng tỷ trọng giống lúa chất lượng cao. Nếu doanh nghiệp, nhất là DNNVV, được tạo điều kiện thuận lợi về vốn, thuế, thanh toán và logistics để thu mua kịp thời, giá lúa có thể giữ ổn định ngay cả khi bước vào cao điểm thu hoạch.
Nhu cầu vốn cho thu mua tạm trữ lớn
Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) niên vụ 2025–2026 tiếp tục dư cung, với tồn kho toàn cầu ở mức cao, tạo áp lực lên mặt bằng giá. Giá gạo Thái Lan được dự báo có thể giảm 3–5% trong năm 2026 khi thị trường trở lại trạng thái cân bằng, trong khi Ấn Độ tiếp tục duy trì chính sách giá thấp.
Với Việt Nam, giá xuất khẩu bình quân năm 2026 có thể giảm 2–4%, dao động quanh 400–450 USD/tấn. Đáng chú ý, Philippines – thị trường tiêu thụ lớn nhất – dự kiến giảm nhập khẩu xuống khoảng 150.000 tấn/ tháng trong tháng 3 và 4/2026, đồng thời tăng thuế nhập khẩu lên 20%. Việc thị trường chủ lực “giảm nhịp” đúng thời điểm vụ đông xuân 2025–2026 bước vào giai đoạn thu hoạch rộ làm gia tăng nguy cơ dư cung cục bộ, đòi hỏi doanh nghiệp và hệ thống tín dụng phải chủ động thu mua, tạm trữ để giữ ổn định giá lúa.
Hiện nhiều tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long bước vào thu hoạch rộ. Tại Đồng Tháp, An Giang, lúa trà sớm đạt năng suất khoảng 66,1 tạ/ha. Sản lượng đã thu hoạch ước 300–400 nghìn tấn, và còn khoảng 1,3–1,4 triệu tấn sẽ thu hoạch trong các tuần tới. Khối lượng lớn lúa hàng hóa vào cùng thời điểm khiến nhu cầu thu mua, tạm trữ tăng mạnh để tránh áp lực giảm giá.
Ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phước Thành IV (Vĩnh Long) cho biết, đầu năm nay, sau khi Philippines tạm ngưng nhập khẩu và áp dụng cơ chế hạn ngạch theo tháng, giá lúa nguyên liệu trong nước có xu hướng giảm. Hiện giá lúa vẫn duy trì tương đối ổn định, dao động 5.600–6.150 đồng/kg đối với lúa ướt hạt dài và 5.400–5.600 đồng/kg đối với lúa thường ướt (mua tại ruộng). Tuy nhiên, tồn kho tại các nước nhập khẩu còn cao khiến nhiều doanh nghiệp khó chốt hợp đồng mới.
“Đây là thời điểm doanh nghiệp rất cần được hỗ trợ vốn tạm trữ để giữ giá lúa”, ông Thành nhấn mạnh.
Về xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, hết tháng 1, doanh nghiệp đã xuất hơn 600.000 tấn gạo, kim ngạch đạt 370 triệu USD, tăng 12,4% về lượng và 16,9% về giá trị so với cùng kỳ; giá xuất khẩu bình quân tăng 4%. Dù tín hiệu tích cực, ông Đỗ Hà Nam cho rằng các giải pháp hỗ trợ trong giai đoạn rộ vụ cần được triển khai đồng bộ, từ tín dụng tạm trữ đến tháo gỡ vướng mắc về thuế, thanh toán và logistics.
Theo ông Nam, cho vay theo chuỗi liên kết khép kín giúp giảm rủi ro cho ngân hàng nhờ doanh nghiệp đầu mối có năng lực tài chính và thị trường ổn định. Tuy nhiên, số lượng DNNVV trong ngành vẫn lớn và không ít đơn vị gặp khó trong tiếp cận vốn. Do đó, trong cao điểm mùa vụ, Hiệp hội mong muốn các NHTM linh hoạt nâng hạn mức tín dụng theo chu kỳ thu hoạch; đồng thời mở rộng các sản phẩm cho vay dựa trên dòng tiền, khoản phải thu và hợp đồng xuất khẩu để tăng cơ hội tiếp cận vốn.
Về phía doanh nghiệp, ông Nam khuyến nghị ưu tiên trữ lúa khô thay vì xay xát sớm, bởi lúa khô có thể bảo quản 6 tháng đến 1 năm mà vẫn giữ chất lượng. Bên cạnh đó, theo Nghị định số 181/2025/NĐ-CP các khoản chi từ 05 triệu đồng trở lên bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt mới được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Quy định này cần được xem xét linh hoạt khi doanh nghiệp thu mua trực tiếp từ nông dân, nhất là tại vùng sâu, vùng xa. Các giải pháp như mở rộng vai trò hợp tác xã làm đầu mối xuất hóa đơn hoặc áp dụng chứng từ thu mua đặc thù cho nông sản thô có thể giúp quá trình thu mua diễn ra thuận lợi hơn.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/chu-dong-tin-dung-giu-nhip-xuat-khau-gao-178381.html














