Cần thay đổi cách khai thác rừng keo

Liên tiếp các vụ sạt lở đất ở vùng núi thành phố Đà Nẵng những năm gần đây khiến dư luận và ngành chức năng không khỏi đặt câu hỏi về 'sự liên quan' của cây keo. Dù vậy, ở góc độ khoa học, các chuyên gia lâm nghiệp cho rằng keo không có lỗi...

Rừng keo trồng sát các tuyến đường huyết mạch và tại đây cũng là khu vực xảy ra các vụ sạt lở liên tục thời gian qua ở các xã miền núi. Ảnh: C.P

Rừng keo trồng sát các tuyến đường huyết mạch và tại đây cũng là khu vực xảy ra các vụ sạt lở liên tục thời gian qua ở các xã miền núi. Ảnh: C.P

Cây keo “có công” hay “có tội”?

Trong bối cảnh, điều kiện thực tế của người dân Đà Nẵng, cây keo những năm qua đã đóng góp rất lớn vào sinh kế, tạo ra sự thay đổi đời sống cho không ít hộ gia đình có diện tích rừng lớn.

Keo cũng tạo ra chuỗi sản xuất, tạo công ăn việc làm cho cả một “hệ sinh thái” từ người làm công tới doanh nghiệp chế biến gỗ.

Khi đi tìm câu trả lời ở góc độ khoa học lâm sinh, chúng tôi khá bất ngờ khi đại đa số nhà khoa học am hiểu về cây keo đều cho rằng “lỗi do con người” chứ “cây keo không có tội” trong các vụ sạt lở.

TS Chu Mạnh Trinh, chuyên gia bảo tồn đa dạng sinh học, nguyên giảng viên Trường Đại học sư phạm (Đại học Đà Nẵng) cho rằng, nếu nhìn vào các vụ sạt lở gần đây ở vùng cao Đà Nẵng mà đổ lỗi cho cây keo là chưa hoàn toàn đúng, có phần “cắt lát” cách tiếp cận.

“Tuổi đời một cây keo thường kéo dài lên tới 20 năm, giai đoạn 5 năm đầu tiên cây keo phát triển dữ dội và bộ rễ hút nước rất nhiều.

Từ năm thứ 6 trở đi cây bắt đầu phát triển cành, càng về sau thì thân càng lớn và góp phần tạo hệ sinh thái môi trường bao quanh nơi cây keo sinh trưởng” - ông Trinh nói.

Chính vì vòng đời sinh trưởng lên tới 20 năm, giai đoạn quan trọng nhất của cây keo đóng góp cho môi trường, phòng chống sạt lở đất lại rơi vào ½ thời gian sinh trưởng phía sau nên theo ông Chu Mạnh Trinh, nếu hiểu cho đúng ngọn ngành thì tuyệt đối không nên chặt keo ở từ 4-5 năm đổ lại.

“Cây keo 5 năm đầu bộ rễ phát triển tối đa, hút nước dữ dội, thân phát triển thẳng đứng nên chúng ta đi trong rẫy keo lúc này thường có cảm giác khô nóng, oi bức, các loài cây khác gần như không thể mọc được.

Từ năm thứ 8, thứ 10 trở đi cây mới ổn định, rễ lúc này đã ôm chặt vào lòng đất tạo ra một lớp màng bọc xung quanh.

Quanh cây keo lúc này hoàn toàn có thể trồng thêm các loài cây khác chứ không giống như giai đoạn khô khốc lúc keo 4-5 tuổi.

Do đó, hiểu cho đúng thì cây keo không “phá rừng”, gây sạt lở đất mà hoàn toàn có khả năng giữ nước, cải tạo đất, tạo lớp thực vật trên bề mặt”, ông Trinh khẳng định.

TS Chu Mạnh Trinh cũng cho biết hiện nay phần lớn keo được trồng để khai thác kinh tế, rừng keo mới 4-5 tuổi đã chặt trụi, đây là lúc mà keo đang lấn át các loài cây khác, ít có “đóng góp” cho môi trường.

Hơn nữa, việc khai thác keo theo kiểu chặt trụi, đốt sạch thực bì đồng loạt, khi thu hoạch thì móc đất mở đường lên sườn đồi lại vô tình tạo ra những rủi ro lớn hơn cho môi trường.

Thảm bề mặt rừng gần như không có lớp ngăn thấm, chống xói mòn và thâm nhập nước; các đường rãnh cho xe chở keo lại gia tăng nguy cơ sạt lở nhiều hơn.

Cùng quan điểm, TS Ngô Trí Dũng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý tài nguyên (CORENARM, Huế), cũng cho rằng keo thuần loài có các ưu nhược điểm như các loài cây trồng rừng nguyên liệu khác.

“Keo là cây trồng có biên độ thích nghi rộng, phù hợp với nhiều loại đất và khí hậu từ khô cằn, nghèo dinh dưỡng đến vùng đồi núi, hoặc chua phèn.

Do vậy ở các vùng đất bạc màu thì đây là loài có thể trồng tiên phong để giúp phục hồi hệ sinh thái rừng, tạo lập môi trường và độ phì đất, làm nền tảng cho các loài cây bản địa trồng tiếp theo để tạo thành rừng cây lâu năm ổn định.

Kỹ thuật trồng rừng, chăm sóc, thu hoạch keo không phức tạp nên phù hợp với nguồn vốn đất đai quy mô nhỏ, kỹ năng canh tác, và điều kiện kinh tế hộ gia đình sản xuất nhỏ - là tiền đề giúp xóa đói giảm nghèo cho các hộ gia đình nông thôn ở Việt Nam”, ông Dũng nói.

Cần thay đổi cách tiếp cận

TS Chu Mạnh Trinh khẳng định hiện nay, tại Đà Nẵng có nhiều mô hình dùng cây keo để cải tạo đất, gia tăng sinh kế, tạo hệ sinh thái rừng và thậm chí chống sạt lở rất tốt.

Ngoài việc cân nhắc, đánh giá lại quy hoạch không gian trồng keo ở từng xã, từng vị trí theo độ dốc thì việc rất quan trọng là phổ biến kiến thức sinh trưởng, đặc tính về cây keo để người dân nắm.

“Thay vì thu hoạch quá sớm thì bà con nên đợi thời gian dài hơn để cây sinh trưởng đủ tuổi, gia tăng bộ rễ.

Khi thu hoạch keo thay vì chặt trụi, khai thác đại trà thì thu hoạch theo khoảnh nhỏ hoặc cắt xen kẽ kết hợp trồng cây con.

Như vậy rừng keo sẽ có tính “gối đầu”, vừa có thu hoạch lại vừa có khả năng tái tạo rừng, không tạo ra những “khoảng trống” tạo rủi ro về môi trường, sạt lở.

Vấn đề lớn nhất ở đây là thay đổi tư duy của người dân, làm sao đảm bảo sinh kế để dân có cái ăn hằng ngày trong lúc chờ đợi rừng keo vào chu kỳ khai thác” - ông Trinh nói.

Ông Phạm Cường - Giám đốc Trung tâm thực hành và nghiên cứu lâm nghiệp Trường Đại học Nông lâm, Đại học Huế, cũng cho rằng “cây keo không có lỗi mà lỗi là do con người”, do cách trồng và khai thác loài cây này.

TS Ngô Trí Dũng cho rằng để hạn chế sạt lở cần có quy hoạch cụ thể cho các vùng cảnh quan khác nhau theo các tiêu chí như độ dốc, loài cây, gần nguồn nước, tầng đất, tính chất và kết cấu đất.

Theo đó, các địa phương nên ưu tiên trồng cây bản địa ở các khu vực đầu nguồn nước, trên đất dốc và phát triển thêm nhiều tầng tán dây leo, bụi rậm, cây gỗ lớn, gỗ nhỏ, cây bụi, cây chịu bóng…

Chỉ trồng cây keo ở các vùng đất không quá dốc, thuận tiện vận chuyển và gần các nhà máy, không gây tác động lớn về môi trường (đầu nguồn sông suối, gần ao hồ và nhà dân…).

Nên ưu tiên trồng rừng gỗ lớn có thời gian sinh trưởng hơn 10 năm để tăng giá trị đầu ra về kinh tế và môi trường.

Cũng nên xem xét hạn chế ngành dăm gỗ để hạn chế rừng nguyên liệu ngắn ngày ít có lợi về môi trường”, ông Dũng nêu.

Theo thống kê, miền Trung nước ta là nơi tập trung diện tích keo lai lớn nhất của cả nước với 1,8 triệu hecta. Theo số liệu mới nhất từ Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Đà Nẵng, tới nay toàn thành phố có 700 ngàn hecta đất lâm nghiệp, trong số này diện tích rừng trồng chiếm khoảng 1/3 và trong 1/3 rừng này cây keo chiếm tỉ lệ gần như tuyệt đối.

CẨM PHÔ

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/can-thay-doi-cach-khai-thac-rung-keo-3323541.html