Bộ đội Biên phòng và chiến lược 'Khoan thư sức dân'

Xuyên suốt hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, các triều đại phong kiến Việt Nam đã sớm thấy rõ: Biên giới, cương vực quốc gia dẫu có sông sâu, núi cao, đèo ngang hiểm trở, vẫn không thể vững bền muôn thuở. Thứ vững bền nhất, trường tồn nhất ấy chính là lòng dân. Một biên cương núi cao trùng điệp nhưng không có nhân dân bám trụ sinh sống thì cũng chỉ là những vùng đất trống, không có sự sống.

Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng luôn xác định tinh thần cống hiến, phát huy truyền thống anh hùng khắc phục khó khăn, gian khổ, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới Tổ quốc. Ảnh: Anh Dũng

Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng luôn xác định tinh thần cống hiến, phát huy truyền thống anh hùng khắc phục khó khăn, gian khổ, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới Tổ quốc. Ảnh: Anh Dũng

Nhìn từ lịch sử: Cương thổ vạn dặm không bằng lòng dân một thước

Từ thời nhà Lý, chiến lược "Nhu viễn" (vỗ về người phương xa) đã được thực thi hiệu quả. Vua Lý Thái Tông gả Công chúa Bình Dương cho Châu mục Lạng Châu Thân Thiệu Thái (năm 1029), hay gả Công chúa Kim Thành cho Châu mục Phong Châu. Việc đem những giọt máu hoàng gia kết hôn với các tộc trưởng miền núi thể hiện sự nhìn xa, trông rộng của các bậc minh quân, luôn lo lắng chu toàn cho công cuộc giữ nước.

Đến thời Trần, chiến lược này tiếp tục được kế thừa với việc gả Công chúa Huyền Trân cho Vua Chiêm Thành Chế Mân. Đồng thời, triều đình cử các Thân vương, Thái tử, những danh tướng kiệt xuất như Trần Nhật Duật, Lý Thường Kiệt trực tiếp lên trấn giữ, kinh lược vùng biên ải. Các vị quan thần mang theo văn hóa, kỹ thuật canh tác nông nghiệp, dạy dân cách làm ăn, tổ chức lực lượng "ngụ binh ư nông" (gửi binh ở nhà nông) ngay tại biên giới.

Đặc biệt, dưới triều Lê sơ, Vua Lê Thái Tổ và về sau là Vua Lê Thánh Tông đã cho khắc bia đá trên các đỉnh núi tiền tiêu, ban hành Luật Hồng Đức quy định những hình phạt khốc liệt nhất đối với tội làm mất đất biên cương. Song song với pháp trị, triều đình miễn giảm tô thuế, ban cấp ruộng đất cho binh lính và người dân vùng phên giậu. Đó chính là những mầm mống sơ khai của tư tưởng "Khoan thư sức dân" nơi biên viễn: Muốn dân bám trụ giữ đất thì triều đình phải lo cho dân no ấm, cho dân được hưởng quyền lợi và vị thế.

Tầm nhìn chiến lược trong bối cảnh hiện nay

Bước vào kỷ nguyên mới, với những biến động khó lường của địa chính trị toàn cầu và sự xuất hiện của các hình thái chiến tranh kiểu mới, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII đã chỉ rõ những vấn đề mới mẻ và cấp bách trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc.

Khái niệm “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” nay đã được mở rộng cả nội hàm lẫn phạm vi. Từ sớm, từ xa không chỉ là câu chuyện về không gian (ngoài lãnh thổ) hay thời gian (trước khi xung đột nổ ra), mà cốt lõi là việc ngăn chặn những nguy cơ đứt gãy từ bên trong. Đại hội XIV nhấn mạnh sự nguy hiểm của các thách thức an ninh phi truyền thống: Biến đổi khí hậu, an ninh mạng, đứt gãy chuỗi cung ứng và đặc biệt là sự xâm nhập của các thế lực thù địch thông qua chiến tranh thông tin, "diễn biến hòa bình" hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đặc biệt tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số biên giới.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII cũng đặt ra yêu cầu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Tuy nhiên, vũ khí trang bị hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế được yếu tố con người. Định hướng chiến lược hiện nay là: "Hiện đại hóa trang bị kết hợp với truyền thống nghệ thuật chiến tranh nhân dân; lấy thế trận lòng dân làm nền tảng cốt lõi của các khu vực phòng thủ". Biên giới Tổ quốc nay được phòng thủ bằng một "hệ sinh thái an ninh". Mỗi người dân là một "cảm biến sinh học" nhạy bén nhất, mỗi bản làng là một pháo đài bất khả xâm phạm.

Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu tặng điện thoại thông minh cho người dân khu vực biên giới để đẩy nhanh công Diệp Chitác chuyển đổi số. Ảnh: Bích Nguyên

Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu tặng điện thoại thông minh cho người dân khu vực biên giới để đẩy nhanh công Diệp Chitác chuyển đổi số. Ảnh: Bích Nguyên

Những người bám trụ xây dựng "thế trận lòng dân"

Trong quá khứ, khi nhắc đến Bộ đội Biên phòng giúp dân, truyền thông thường đóng khung trong những hình ảnh dung dị: Chiến sĩ cõng chữ lên non, quân y khám bệnh phát thuốc, bộ đội lội bùn gặt lúa giúp đồng bào, hay những mô hình xóa đói giảm nghèo. Đó là những việc làm cao đẹp, mang tính nhân văn sâu sắc. Nhưng ở tầm vóc của một lực lượng tác chiến chiến lược, nếu chỉ nhìn nhận Bộ đội Biên phòng như một lực lượng "làm công tác xã hội" thì chúng ta đang làm nhỏ đi vai trò lịch sử của họ.

Nhìn thẳng vào bối cảnh hiện nay, Bộ đội Biên phòng đang thực sự đóng vai trò trụ cột trong việc xây dựng, củng cố hệ thống chính quyền cơ sở và đan kết tấm lưới an ninh nhân dân ngay từ cấp thôn, bản.

Bộ đội Biên phòng đã chủ động tham gia cùng cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở. Việc hàng nghìn cán bộ Biên phòng được tăng cường về làm Phó Bí thư Đảng ủy các xã biên giới, hay đảng viên các đồn Biên phòng về sinh hoạt tại các chi bộ thôn bản không phải là giải pháp tình thế. Đó là bước đi chiến lược nhằm chuyển giao tư duy quản trị Nhà nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng địa phương, biến các vùng "trắng đảng viên" thành những pháo đài chính trị vững chắc.

Bên cạnh đó, việc Bộ đội Biên phòng tham mưu, phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương thành lập các tổ tự quản đường biên, cột mốc là một chủ trương đúng đắn sáng tạo. Thay vì chỉ sử dụng quân đội để tuần tra, chúng ta tổ chức cho người dân trực tiếp tham gia quản lý biên giới quốc gia. Khi người dân coi cột mốc như bàn thờ gia tiên, coi đường biên như hàng rào nhà mình, thì đó là lúc chủ quyền quốc gia đạt trạng thái an toàn tuyệt đối.

Trên tuyến biên giới, các đồn Biên phòng tham mưu cho chính quyền địa phương tổ chức kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới. Những xích mích nhỏ lẻ giữa cư dân hai nước được giải quyết bằng tình làng nghĩa xóm, bằng sự thấu hiểu văn hóa, để góp phần xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Rõ ràng, vai trò của người lính Biên phòng đã vượt ra khỏi giới hạn của những người cầm súng đứng gác, tuần tra mà trở thành là những cán bộ chính trị cơ sở, kỹ sư nông nghiệp, cán bộ văn hóa, nhà ngoại giao... ngày đêm neo giữ phên giậu đất nước bằng những "cột mốc sống" mang tên lòng dân.

"Khoan thư sức dân" ở khu vực biên giới

Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn trước khi mất đã để lại lời di huấn ngàn vàng: "Thời bình, phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước". Hôm nay, áp dụng triết lý ấy vào khu vực biên giới, chúng ta càng thấy rõ tầm nhìn vượt thời đại.

Vậy tại sao phải đặc biệt chú trọng "khoan thư sức dân" ở khu vực biên giới? Và khoan thư ở đây mang hàm ý chiến lược gì?

Một là, xuất phát từ đặc thù địa chính trị khắc nghiệt. Biên giới luôn là nơi đầu sóng ngọn gió, địa hình hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng yếu kém nhất. Người dân bám trụ nơi đây phải đối mặt với muôn vàn khó khăn sinh tồn. Nếu không có chính sách "khoan thư" thì sẽ dẫn đến hiện tượng di cư tự do, bỏ hoang đất đai. Một đường biên giới không có dân sinh sống, dù có bố trí hàng vạn quân tinh nhuệ vẫn vô cùng mỏng manh trước âm mưu xâm lấn.

Hai là, tạo ra sức đề kháng trước sự bất đối xứng về phát triển. Trong bối cảnh hội nhập, sự chênh lệch mức sống giữa hai bên đường biên giới có thể tạo ra những tác động tâm lý sâu sắc. Nếu đời sống đồng bào ta quá khó khăn, nghèo đói, đó sẽ là mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch tuyên truyền, lôi kéo, kích động ly khai, bạo loạn hoặc buôn lậu, tội phạm xuyên quốc gia. Do đó, "khoan thư sức dân" biên giới chính là việc đầu tư mạnh mẽ vào kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế để nâng cao thế trận vật chất và tinh thần; giúp dân tự hào về Tổ quốc, tự tin về văn hóa và kiên định với chế độ.

Ba là, "khoan thư" là quá trình trao quyền và tôn vinh. Ở góc độ nghiên cứu chiến lược, "khoan thư" là tạo sinh kế bền vững, là tôn vinh văn hóa bản địa, là để đồng bào thấy họ là chủ nhân thực sự của vùng đất này, tự nguyện truyền đời cho các thế hệ con cháu giữ vững chủ quyền núi sông, bờ cõi.

Trong suốt những năm làm báo của mình, tôi được tác nghiệp nơi tuyến đầu Tổ quốc. Điều khiến tôi xúc động nhất là ánh mắt tin cậy của vị già làng khi nắm tay người đồn trưởng: "Cán bộ Bộ đội Biên phòng ở đâu, bản làng người Mông, người Thái, người Dao... ở đó. Còn bản làng là còn cột mốc".

Diệp Chi

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/bo-doi-bien-phong-va-chien-luoc-quotkhoan-thu-suc-danquot-post501082.html