Bảo tồn văn hóa qua nghệ thuật múa rối nước
Trên thế giới hiện nay có vô vàn loại hình nghệ thuật như rối gậy, rối que, rối dây, rối tay hay rối bóng nhưng đó đều là rối cạn. Chỉ duy nhất Việt Nam có múa rối nước. Từng được hoài thai và sinh ra từ những cánh đồng chiêm trũng, mang đậm hơi thở của nền văn minh lúa nước, múa rối nước giờ đây đang đứng trước một ngã rẽ lớn. Trong nhịp sống hiện đại, nghệ thuật múa rối nước truyền thống đang phải chật vật tìm chỗ đứng và gắn bó hơn với khán giả đặc biệt là khán giả trẻ.

Một tiết mục múa rối của Đoàn Múa rối Bông sen thuộc Nhà hát Nghệ thuật Đương đại Việt Nam.
Hồn lúa nước và tài hoa người nghệ sĩ
Múa rối nước không sinh ra trong chốn cung đình trướng rủ màn che mà tượng hình từ chính những vùng chiêm trũng quanh năm ngập nước của châu thổ sông Hồng. Ban đầu, khi những cơn lũ tràn về hay vào mùa nông nhàn, người nông dân đã tận dụng ngay mặt ao làng làm sân khấu, đẽo gỗ làm tượng để giải trí. Lịch sử đã ghi nhận, trên bia tháp Sùng Thiện Diên Linh, chùa Đọi, Ninh Bình khắc năm 1121 dưới triều Lý, múa rối nước đã được biểu diễn quy mô để mừng thọ nhà vua. Từ một trò chơi dân dã, rối nước dần hoàn thiện, trở thành kết tinh trí tuệ tuyệt vời của nền văn minh lúa nước. Hiện nay, di sản quý giá này đang được gìn giữ tại các phường rối truyền thống ở các làng quê Bắc Bộ và trình diễn tại một số nhà hát chuyên nghiệp trên cả nước.
Bí quyết làm nên sức hấp dẫn độc nhất vô nhị của rối nước nằm ở chính không gian “thủy đình”. Sân khấu rối nước bắt buộc phải là nước đục. Màu nước ngầu bùn ấy là tấm rèm tự nhiên hoàn hảo nhất để giấu kín toàn bộ hệ thống sào, dây, cọc chăng ngoằn ngoèo phía dưới. Để con rối uyển chuyển lướt trên mặt hồ, người thợ mộc xưa chỉ chọn duy nhất gỗ sung - loại gỗ xốp, nhẹ, dẻo dai và không bị nứt nẻ khi ngâm nước. Bí quyết nghề còn nằm ở lớp “sơn hom” - nhựa sơn ta trộn với đất phù sa nhào kỹ. Phải qua nhiều lớp sơn hom chống thấm rồi mới thếp vàng, vẽ màu những con rối mới đủ sức chống chọi lại sự bào mòn của thời gian.
Hơn nửa đời người gắn bó với những thớ gỗ, ông Phan Văn Phi - nghệ nhân lão làng kiêm Trưởng xưởng sản xuất rối nước thôn Đào Thục, xã Thư Lâm, Hà Nội chia sẻ: “Làm rối nước không có công thức rập khuôn. Mỗi thợ đẽo lại thổi vào con rối một nét mặt, một cái thần riêng. Nhiều khi anh em lỡ tay đẽo gọt chệch đi một chút so với mẫu ban đầu, chúng tôi lại lựa theo đó mà uốn nắn thành một nhân vật khác. Ở xưởng này tuyệt đối không có khái niệm bỏ đi hay củi mục. Mỗi khúc gỗ vô tri, qua bàn tay người thợ đều mang một linh hồn, một số phận riêng trên mặt nước”.
Từ những “linh hồn” bằng gỗ ấy, các thế hệ nghệ nhân đã sáng tạo ra hàng trăm tích trò mang đậm hơi thở đồng ruộng. Khán giả yêu múa rối nước biết đến các vở diễn: “Tễu giáo trò”, “Vinh quy bái tổ”, “Đánh cáo bắt vịt”, “Câu ếch”, “Múa rồng”...
Thế nhưng, để có một tiết mục hoàn chỉnh trình làng, quá trình sáng tạo lại là một bài toán hóc búa về nghệ thuật sắp đặt và cơ học dân gian. Nó bắt đầu từ chính việc quan sát tỉ mỉ đời sống hàng ngày. Thấy con vịt bơi, con cá quẫy đuôi, người thợ lại trăn trở làm sao để chuyển hóa nhịp điệu ấy vào khúc gỗ. Nghệ nhân Nguyễn Viên, phường rối Chàng Sơn, xã Thạch Xá, Hà Nội cho biết, thợ làm rối miệt mài thiết kế hệ thống “máy sào”, “máy dây” phải tính toán chính xác từng ly từng tí. Có như vậy, khi người nghệ sĩ giật dây, bóp sào ở phía sau mành, con rối phía trước mới có thể vươn cổ, vỗ cánh, nhả khói hay nhào lộn một cách mượt mà, không bị rối dây hay kẹt cứng dưới làn nước đục.
Và để duy trì những nhịp đập ấy, không thể thiếu sự hy sinh thầm lặng phía sau bức mành tre. Trực tiếp đứng nước điều khiển rối nhiều năm, nghệ nhân Bùi Tấn Đạt, Nhà hát Múa Rối nước Rồng Vàng - TP. Hồ Chí Minh chia sẻ, các nghệ nhân phải thường xuyên phải ở dưới nước ngập ngang hông suốt nhiều giờ đồng hồ để biểu diễn. Bất kể trời nắng nóng hay rét buốt, luôn cố gắng mang đến những tiết mục ấn tượng cho người xem.

Các nghệ nhân múa rối ở xã Thư Lâm, Hà Nội hướng dẫn du khách trải nghiệm múa rối nước.
Giữ nhịp rối nước trong dòng chảy đương đại
Hiện nay, múa rối nước đang phải đối mặt với một nghịch lý: Phát triển rực rỡ ở sân khấu chuyên nghiệp phục vụ du khách nước ngoài nhưng lại ít được đón đợi tại nhiều sân khấu trong nước.
Khán giả quốc tế khi xem rối nước Việt Nam đều tỏ ra ngạc nhiên và thán phục. Điển hình như Nhà hát Múa rối Thăng Long, Hà Nội nhiều năm qua, đã mang chuông đi đánh ở gần 100 nước, vinh dự là nhà hát duy nhất ở châu Á đỏ đèn liên tục trong năm, mang về doanh thu hàng chục tỷ đồng. Tuy nhiên, trở về với cái nôi thực sự là các làng quê, bức tranh lại mang gam màu trầm buồn. Nhiều phường rối từng rất vang bóng nhưng nay hoạt động lay lắt. Toàn quốc, hiện chỉ còn giữ được khoảng 18 phường rối nghiệp dư.
Gắn bó máu thịt với nghệ thuật của làng, nghệ nhân Nguyễn Viên, phường rối nước Chàng Sơn, xã Thạch Xá, Hà Nội ngậm ngùi chia sẻ về những khó khăn thực tế: “Việc thiết kế sân khấu nước điều khiển bằng dây đòi hỏi rất nhiều thời gian, sân khấu biểu diễn cố định nên không thể linh hoạt mang ra khỏi địa phương. Bởi vậy, nếu không có các suất diễn thường xuyên ngay tại làng, nghệ nhân chúng tôi lại không thể mang sân khấu đi diễn chỗ khác, thành ra anh em không có đất diễn, khó mà bám trụ được với nghề”.
Nỗi trăn trở ấy cũng là tiếng lòng chung của nhiều nghệ nhân. Nghệ nhân Nguyễn Thế Nghị, thành viên phường rối Đào Thục, xã Thư Lâm, Hà Nội thẳng thắn nhìn nhận nguyên nhân khiến múa rối nước đang dần mất đi sức hút với khán giả trong nước, đặc biệt là giới trẻ: “Khó khăn lớn nhất ở các phường rối dân gian trong cộng đồng là không gian biểu diễn chưa chuyên nghiệp. Nghệ nhân thường phải làm rất nhiều nghề khác nhau để mưu sinh. Hơn nữa, đúng là chúng ta cần phải đổi mới. Muốn phát triển thì phải sáng tạo các tiết mục, tích trò mới bắt kịp với đời sống văn hóa đương đại, chứ không thể nào cứ diễn đi diễn lại những tiết mục đã có từ hàng nghìn năm trước”.
Để lưu giữ giá trị ấy, chúng ta cần một tầm nhìn xa và những giải pháp đồng bộ. Nhìn sang đất nước Indonesia, nhờ tầm nhìn chiến lược, nghệ thuật múa rối bóng Wayang của họ đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, từ đó hồi sinh mạnh mẽ.
Để múa rối nước không mai một, chúng ta cần chiến lược bài bản như cách Indonesia đã hồi sinh múa rối bóng Wayang qua sự vinh danh của UNESCO. Theo NSND Nguyễn Tiến Dũng, Giám đốc Nhà hát Múa rối Việt Nam thì bảo tồn phải gắn với không gian làng quê chứ không chỉ bó hẹp trong nhà hát. Các phường rối cần hoạt động chuyên nghiệp hơn, chủ động kết nối với du lịch và giáo dục. Chỉ khi không ngừng sáng tạo và tự chủ, nghệ thuật này mới thực sự bám rễ vào đời sống cộng đồng.
Múa rối nước là di sản tâm hồn, là vốn liếng quý báu của dân tộc. Để nghệ thuật này trường tồn, rất cần sự chung tay của cơ quan quản lý, các nhà hoạch định chính sách và tình yêu của chính công chúng Việt. Chỉ khi hơi thở đương đại được thổi vào những kịch bản mới, khi nghệ nhân sống được bằng nghề trên chính quê hương mình, những “sứ giả” gỗ mới có thể tiếp tục thong dong kể câu chuyện văn hóa Việt cho muôn đời sau.







![[Ảnh] Bảo tàng Chứng tích chiến tranh thu hút du khách dịp cuối tuần](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_08_01_14_55741761/3fbfce9487df6e8137ce.jpg)


