Bản đồ biển được 'vẽ' như thế nào

Trong suốt thế kỷ XX, con người đã tập trung nỗ lực lớn vào việc đo đạc và lập bản đồ trên phạm vi toàn cầu, cho cả đất liền và đáy biển với mức độ thông tin ngày càng chitiết hơn. Đặc biệt, trong 20 năm cuối của thể kỷ XX, công nghệ đo đạc và bản đồ đã có những thay đổi mang tính chất bước ngoặt: công nghệ truyền thống dựa trên các phương pháp đo góc, đo cạnh, xử lý ảnh chụp mặt đất bằng mô hình quang học đã được thay thế bằng công nghệ số dựa trên nền tảng của công nghệ vệ tinh và công nghệ thông tin. Mô hình lãnh thổ trước đây được thể hiện là bản đồ trên giấy, nay được bổ sung và thể hiện bằng hệ thống thông tin địa lý trên máy tính.

Số hóa bản đồ phục vụ đào tạo và an ninh quốc phòng

Bản đồ biển (mà trước đây ta thường gọi là hải đồ) là các loại bản đồ thể hiện các thông tin về đối tượng dưới đáy biển, trong lòng nước, trên mặt biển và các yếu tố liên quan khác trên phần đất liền ven biển; được lập thành từng hệ thống hay riêng lẻ với tỷ lệ thích hợp (từ 1/10.000 trở xuống) phục vụ cho các hoạt động trên biển, đất liền ven biển và các hoạt động liên quan đến biển khác.

Bản đồ biển là tài liệu không thể thiếu cho các hoạt động bảo vệ chủ quyền an ninh trên biển, các lĩnh vực quản lý, khai thác tiềm năng tài nguyên biển và các hoạt động nghiên cứu khoa học khác về biển.

Tất cả các loại bản đồ biển đều được xây dựng trên một nền chung, đó là địa hình đáy biển – mà địa hình đó được bao phủ bởi một lớp nước, vì vậy mà nền đó được gọi là bản đồ nền độ sâu đáy biển. Bản đồ nền độ sâu đáy biển càng được khảo sát và thể hiện một cách chính xác, chi tiết thì ý nghĩa phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu, khảo sát, thể hiện các thông tin nghiên cứu khoa học khác càng có tính đắc dụng và hiệu quả.

Thông thường các bản đồ biển với mức độ chi tiết và đầy đủ khác nhau phải thể hiện được các yếu tố: Đường bờ (trên bản đồ biển) được biểu thị bằng các đặc điểm đặc trưng (lồi lõm, khúc khuỷu, thẳng, cong, gồ ghề…); Thủy hệ trên phần ven biển, Địa hình trên phần ven biển; Vùng dân cư; Hệ thống đường xá; Lớp phủ thực vật và chất đất; Địa hình đáy biển; Chướng ngại vật hàng hải; Chất đáy; Trang thiết bị an toàn hàng hải; Vật định; Luồng, lạch, kênh, đường hành trình trên biển; Ranh giới; Các yếu tố khác và ghi chú.

Theo quy định quốc tế, các bản đồ biển phải đáp ứng các yêu cầu: Nội dung của bản đồ biển phải đáp ứng mục đích chuyên môn của từng loại hải đồ, phải phản ánh tính điển hình và chân thực của địa lý. Biểu thị tính chất đường bờ biển, với một phần hợp lý của lục địa. Ở mức độ hiện tại (tài liệu đo đạc khảo sát phải mới). Rõ ràng và dễ đọc. Thống nhất với các bản đồ hiện hành và các tài liệu hướng dẫn hàng hải. Đáp ứng yêu cầu của các quy phạm hướng dẫn…

Ở Việt Nam, bản đồ biển xuất bản trong những năm 90 trở về trước được biên tập bằng công nghệ cũ và số liệu chủ yếu (hầu hết) là lấy theo tài liệu bản đồ của nước ngoài xuất bản từ trước 1975. Công nghệ cũ là công nghệ chuyển tải thông tin từ các tài liệu bản đồ nước ngoài được chụp lại, cắt dán, phân sai theo hệ thống lưới kinh vĩ tuyến (trên tỷ lệ bản đồ mới thành lập), vẽ bằng tay và chụp in. Các bản đồ biển tài liệu đưa vào gồm nhiều loại, của nhiều quốc gia, hệ thống tọa độ, hệ quy chiếu không thống nhất cũng như sai khác với hệ tọa độ và hệ quy chiếu quốc gia (hệ HN-72). Trong quá trình biên tập, tuy đã được xử lý qua hiệu chỉnh tọa độ bằng cách tính toán và đồ giải. Độ chính xác đạt được vẫn còn rất hạn chế, không đạt được sự đồng đều trong cùng một mảnh cũng như trong cùng một khối tỷ lệ và càng không đồng đều giữa các khối tỷ lệ khác nhau.

Về độ sâu thể hiện trên bản đồ biển thời gian này phần lớn (và chủ yếu) là độ sâu trên bản đồ biển nước ngoài. Nguồn gốc số liệu đo đạc, tính toán mặt chuẩn đều không có lý lịch. Trong một mảnh bản đồ các độ sâu được trích từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau vì thế độ chính xác độ sâu thực tế cũng không đồng nhất.

Tuy có những đặc điểm trên nhưng trong quá trình sử dụng mấy chục năm qua và qua đối chiếu so sánh với kết quả khảo sát của những năm gần đây thì độ sâu trên các bản đồ biển này không có các sai lệch lớn. Các bản đồ biển sản xuất trong thời kỳ này đã đáp ứng được cho công tác đi biển; làm tài liệu tham khảo và nền sử dụng cho nhiều ngành nghiên cứu về biển sử dụng. Hệ thống bản đồ biển này hiện nay vẫn còn được sử dụng cho công tác dẫn tàu đi trên biển và cho các lực lượng hoạt động trên biển.

Bản đồ biển xuất bản từ những năm 1992 trở lại đây hầu hết đã được áp dụng công nghệ biên tập mới có sử dụng máy tính điện tử để tính toán chuyển đổi hệ thống tọa độ. Các số liệu tọa độ mặt bằng độ sâu được biên tập trên cơ sở các số liệu đo đạc thực địa bằng hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu phân sai (DGPS) và máy đo sâu hồi âm đơn tia độ chính xác cao. Hệ thống tọa độ mặt bằng được đo và quy chuẩn về đúng với hệ thống tọa độ quốc gia (HN-72) và hệ quy chiếu Krasopsky. Mặt chuẩn để tính và xác định độ sâu được tính toán cho từng khu vực thông qua số liệu quan trắc thủy triều cho từng khu vực. Công nghệ biên tập cũ được thay thế bằng công nghệ số hóa và biên tập bằng những chương trình biên tập chuyên dụng (Micro Station và Caris). Hiện tại bản đồ biển được Hải quân nhân dân Việt Nam biên tập chủ yếu bằng chương trình Micro Station.

Từ năm 2002, các bản đồ biển biên tập mới được thống nhất thành lập trong hệ tọa độ VN-2000, hệ quy chiếu WGS-84.

Hệ thống bản đồ biển được lập trên cơ sở số liệu đo đạc mới này bao phủ toàn bộ vùng ven biển ở tỷ lệ 1/100 000; một số cảng, vụng vịnh, cửa sông, đảo ở tỷ lệ 1/25000, và toàn bộ khu vực quần đảo Trường Sa, DK1 ở tỷ lệ 1/200 000. Một số cụm bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa và bãi ngầm DK1 ở tỷ lệ 1/50 000. Các bản đồ được thành lập trên cơ sở số hóa các bản đồ giấy trước đây, việc chuyển đổi tọa độ được tính toán và triển đổi chính xác bởi công nghệ số và độ sâu được kiểm tra đối chiếu, bổ sung, chỉnh lý từ số liệu khảo sát mới nhất.

Có thể đánh giá rằng các bản đồ biển được biên tập và xuất bản từ 1992 đến nay có độ tin cậy cao, đã khắc phục được sự không đồng nhất về độ chính xác trong một mảnh, trong một khối tỷ lệ cũng như giữa các khối tỷ lệ. Các bản đồ này tiếp tục được chỉnh lý hoàn thiện bằng các số liệu khảo sát mới nhất và cập nhật thường xuyên trong hệ thống số.

Hiện tại, bản đồ biển đang được chuyển hướng thành một dạng bản đồ mới- bản đồ biển điện tử - Được biên tập bằng phần mềm CARIS theo chuẩn của Tổ chức Thủy đạc quốc tế (IHO) .

Việc đo đạc thu nhận số liệu thực địa cũng đã được áp dụng nhiều tiến bộ từ công nghệ mới. Trong lĩnh vực đo độ sâu đã thay thế hoàn toàn các thế hệ máy đo sâu đơn tia ghi số đọc và ghi băng giấy bằng hệ thống máy đo sâu đơn tia ghi độ sâu trên đĩa từ và băng giấy có liên kết tích hợp hiệu chỉnh do ảnh hưởng của các yếu tố đến độ sâu đo và tọa độ điểm đo sâu. Công nghệ đó cho phép loại bỏ được sai sót nhầm lẫn khi ghép tọa độ - độ sâu, đẩy nhanh được tốc độ xử lý, tính toán và nâng cao rất nhiều độ chính xác. Hiện nay đã đang sử dụng hệ thống đo sâu hồi âm đa tia MD2 để khảo sát thu nhận độ sâu, bảo đảm việc thu nhận nhanh, đều khắp, phủ kín đáy biển cao hơn. Trong lĩnh vực xác định tọa độ, việc ứng dụng công nghệ định vị vệ tinh đượcphát triển nhanh và cho độ chính xác ngày càng cao. Các thiết bị định vị luôn được cải tiến nâng cao tốc độ xử lý và độ chính xác… Công nghệ xử lý tọa độ theo thời gian thực (Real Time) với khoảng cách xa và từ vệ tinh là chủ yếu. Việc ứng dụng các công nghệ xử lý tiên tiến và sử dụng các thiết bị đo đạc mới cho phép nâng cao được năng suất tốc độ và độ chính xác của công tác đo đạc bản đồ biển, làm cho bản đồ càng có tính thời sự và chất lượng.

Bản đồ biển là một trong những công cụ quan trọng để thực hiện Công ước Luật biển 1982. Bản đồ biển được sử dụng nhằm mục đích: xác định đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải; xác định ranh giới các vùng biển nội thủy, xác định lãnh hải, xác định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; xác định vị trí các đảo nhân tạo, các công trình trên biển, tuyến cáp hoặc dây dẫn ngầm, thể hiện các tuyến đường và cách bố trí phân chia luồng giao thông trong lãnh hải; các khu vực an toàn, các khu bảo tồn biển; sử dụng cho các hoạt động biển (khai thác, bảo vệ tài nguyên, giao thông hàng hải; nghiên cứu khoa học biển; bảo vệ môi trường biển); và là cơ sở đàm phán phân định các đường ranh giới biển, giải quyết các tranh chấp biển. Có thể nói không điều khoản nào của Công ước Luật biển 1982 không có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến bản đồ biển.

Các bản đồ biển (hải đồ) là một bộ phận quan trọng làm nền tảng cho việc xác lập đường biên giới trên đất liền và trên biển. Chúng được sử dụng làm cơ sở đàm phán cho việc xây dựng chiến lượng đàm phán phân định; là một mô hình thu nhỏ tổng quan địa lý, địa hình trợ giúp cho nghiên cứu điều tra, chỉ dẫn sử dụng; là hồ sơ pháp lý của đường biên giới biển tuân thủ theo đúng quy định của Công ước Luật biển 1982. Chính vì vậy, Công ước Luật biển 1982 quy định các quốc gia ven biển có nghĩa vụ thể hiện các đường cơ sở dùng để tính chiều dài lãnh hải được vạch ra theo đúng các Điều 7,9 và 10 hoặc các ranh giới hình thành từ các điều đó và các đường hoạch định ranh giới được vạch ra đúng theo các Điều 12, 15, 74, 76 và 83. Điều 84, Công ước Luật biển 1982 quy định: trên hải đồ có tỷ lệ thích hợp để xác định được vị trí của nó. Nếu không, thì có thể thay thế bằng một bản kê các tọa độ địa lý các điểm, có ghi rõ hệ thống trắc địa đã được sử dụng. Quốc gia ven biển công bố theo đúng thủ tục các hải đồ hay các bản kê các tọa độ địa lý và gửi đến Tổng thư ký Liên hợp quốc một bản để lưu chiểu, và đối với các hải đồ và các bản kê các tọa độ vị trí của ranh giới ngoài của thềm lục địa, thì gửi đến Tổng thư ký của Cơ quan Quyền lực quốc tế về Đáy đại dương một bản để lưu chiểu. Như vậy quốc gia ven biển phải có nghĩa vụ xây dựng và thường xuyên cập nhật các bản đồ biển của mình, công nhận là bản đồ quốc gia, công bố theo đúng thủ tục và gửi đến Tổng thư ký Liên hợp quốc để lưu chiểu. Đây là một nghĩa vụ quốc tế quan trọng nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của quốc gia ven biển và các quốc gia khác, là cơ sở pháp lý giải thích các hoạt động của quốc gia ven biển và các quốc gia khác trong thực thi Công ước Luật biển 1982 và là cơ sở để quản lý biển, giải quyết các tranh chấp biển.

Khôi Nguyên

Nguồn Biên Phòng: http://bienphong.com.vn/ban-do-bien-duoc-ve-nhu-the-nao-r63/