Bận bịu sông quê

Quê tôi là một vùng quê nhỏ nép mình ở một góc sơn cước. Triền đồi thoai thoải chạy từ chân núi đến tận bờ sông nên vườn quê không là những vườn cây mênh mông trĩu quả. Và cũng thế, không là chốn sơn cao thủy thâm, tả thanh long hữu bạch hổ,… như sách thường kể, nên sông quê cũng theo đó mà bé tẻo thôi.

Một khúc sông Trầu. Ảnh: Tư liệu

Một khúc sông Trầu. Ảnh: Tư liệu

Đúng hơn sông quê là dòng suối cạn, mà bọn nhỏ chúng tôi trịnh trọng gọi là sông - sông Trầu. Ấy vậy mà con sông be bé ấy từng là niềm kiêu hãnh của lũ nhóc chăn trâu, và luôn là tình yêu đeo đẳng chúng đến tận lúc bạc đầu.

Kiêu hãnh khi chúng tôi thách thức nhau bơi từ bờ này sang tận bờ kia của cái vực Vạn, vực Giếng, cái vũng trâu đằm. Kiêu hãnh khi mò mẫm từng khe đá, hang đất tóm được vài chú cá chú tôm lòe lũ con gái yếu đuối chết nhác mà ngầm ví mình là Yết Kiêu vĩ đại.

Khi đã bạc một đời nắng gió, tôi lại tìm về con suối ngày xưa mà tình tự, mà sẻ chia một đời sông. Sông Trầu, cái tên nôm na đã tự giới thiệu lý lịch nông dân quê kiểng của mình. Không là tên chữ mà nghĩa chữ thẳm sâu như Thu Bồn, Vu Gia, Bàn Thạch… sông quê không có duyên với những bậc túc nho thâm trầm nên cũng không xin nổi một cái tên. Song cần chi, cái tên sông Trầu với tôi cũng thẳm sâu lắm lắm.

Có lẽ cách người quê đặt tên cho sông cũng như kiểu họ đặt tên cho cây lá, dựa vào hình dáng, đặc điểm hay công dụng. Sông Trầu, phải chăng vì hai bên bờ sông là lúp xúp những vườn trầu xanh lá? Giả thiết này khó thuyết phục bởi tự khi khôn lớn tới giờ, đã đi tận đầu nguồn đến cuối bãi sông, tôi chưa từng thấy dọc bờ sông xanh um lá trầu. Hay là do màu nước sông đỏ như nước dãi ăn trầu của nội chăng? Cũng không biết đúng sai. Chỉ biết sông Trầu bắt nguồn từ thôn Hương Phố của xã Việt An, men theo sườn đồi gò Hoang, gò Ró, men theo những sườn đồi dọc thôn Phú Cốc, ngang qua một phần xã Hiệp Đức rồi nhập vào sông Tranh ở bến phà Tân An.

Hành trình sông ở đầu nguồn được uốn nắn bởi địa chất đất đỏ bazan, nên mùa mưa về, nước sông mang màu đỏ phù sa. Và, cả ngay mùa hạ, khi có cơn mưa bất chợt, nước sông đang trong xanh cũng đổi màu ngầu đục. Là sông Trầu đó chăng?

Nhớ bậc văn nhân hào sảng Nguyễn Tuân đã trịnh trọng mượn câu thơ cổ để ngợi ca cái tính nết bất kham của dòng Đà giang mà rằng: “Chúng thủy giai đông tẩu/ Đà giang độc bắc lưu (Mọi dòng chảy đều xuôi về đông/ Riêng sông Đà một mình ngược bắc).

Mà cứ gì riêng một Đà giang, sông Trầu quê tôi dẫu bé nhỏ nhà quê cũng một hành trình chảy ngược. “Nghịch thủy lai triều xuất hạng nhân”, thuở nhỏ tôi thường nghe cụ đồ Quyên nói thế mà hy vọng dọc một khúc sông quê sẽ sinh ra lắm kỳ nhân dị sĩ. Song, dò vào cổ sử, tiếc thay dòng sông chảy ngược vẫn chưa đẻ cho quê những danh thần lương tướng đủ để làm niềm tự hào mai hậu.

Song, tự lớn khôn tôi đã không hoài công chờ đợi, chính những nông dân sáng lên nương chiều lội suối mà nuôi đủ cho các con mình lên tận phố xá vào ngồi ở các giảng đường đại học chẳng là những “hạng nhân” đó sao? Mãi đợi mãi chờ kỳ nhân dị sĩ há tôi chẳng đã bội ơn mẹ tôi, chị tôi một đời mồ hôi nước mắt mà nuôi đặng thằng tôi đến ngày biết đọc trang sách bình câu văn làm một ông giáo làng sao?

Và biết bao đứa con quê ôm tấm bằng đại học, mộng cao xa mà chưa một lần về cúi mặt với sông quê, há chẳng phải chưa kỳ nhân mà đã là dị sĩ - là kẻ có chữ mà lạc đạo thánh hiền? Có lẽ đã lục thập niên con người cũng bớt đi cái đời ham hố, cái viễn lự viển vông mà tạ một sông quê đã tắm gội bao đời rơm rạ, chảy cạn lòng mình làm nên hạt gạo thảo thơm.

Xưa cụ giáo Cừ có câu thơ: “Quê tôi có một dòng sông/ Phát nguyên Hương Phố, bắt sang Thu Bồn”. Ngày xưa chưa xa, con sông quê gầy guộc ấy chở trên mình dòng nước mà với tuổi thơ tôi đã là dữ dội. Sông uống mạch nước ngầm từ Cao Lao, Liệt Kiểm, núi Gai cũng đủ đầy một đời sông an phận. Có lẽ vì sức hấp dẫn mạch nguồn ấy mà nơi đầu nguồn, chỉ cách nhau chưa đầy một cây số đường sông ngày trước hợp tác xã Bình Lâm I đã xây dựng đến hai con đập, đập Làng ở đoạn thôn Ngọc Sơn và đập Mậu ở đoạn thôn Hội Tường. Giấc mộng “con kênh ta đào” thật lãng mạn. Dẫu hiệu quả kinh tế không thành thì cũng là một giấc mơ no ấm đáng yêu.

Mà nay, dòng sông quê đã mỏi mệt cạn nguồn. Phải chăng là mẹ thiên nhiên đã hờn dỗi sự can thiệp thô bạo của con người vào xanh biếc bao la mà mỏi mệt buông xuôi? Và, chờ những trí thức xuất thân rơm rạ thôi suy nghiệm xa xôi mà nghĩ về một giải pháp thiết thực để hồi sinh một thảm thực vật cho rừng, để hồi sinh một đời sông!

Hẹn nhé, sông quê!

Lặn lội đi về với hoài niệm một đời sông, chợt biết yêu quê nhà tảo tần, khiêm tốn; chợt biết một đời mắc nợ sông quê. Giờ đây, trong tôi vẳng về lời thơ của nhà thơ con đẻ của quê mà tôi yêu quý: “Nhà tôi vắng đêm thừa tiếng thở/ Cha trở mình vẹo nhánh sông sâu/ Mẹ thao thức bờ sông cả gió/ Tôi cạn đêm chưa hiểu lẽ đời (thơ Nguyễn Mậu Hùng Kiệt).

Không dưng, tôi nhớ ý thơ của Nguyễn Khoa Điềm: “Ơi những dòng sông bắt nước từ đâu...”

NGUYỄN TẤN ÁI

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/ban-biu-song-que-3321558.html