Bài 2: Đối diện với những thách thức lớn

Trước hết, sự biến đổi trong không gian cư trú làm cho vấn đề bảo tồn văn hóa truyền thống, chống nguy cơ đồng hóa người Ơ Đu càng khó khăn hơn.

Trước đây, người Ơ Đu tuy ít nhưng sống khá tập trung ở hai bản Xốp Pột, Kim Hòa (xã Kim Đa, huyện Tương Dương). Nhưng từ năm 2004, người Ơ Đu bị phân tán ra nhiều nơi do chính sách di dân khu vực lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ. Hầu hết họ tản ra sinh sống xen kẽ với các cộng đồng ở nhiều xã trong huyện Tương Dương. Tập trung đông nhất là khu tái định cư ở bản Văng Môn, xã Nga My (Tương Dương) với 94 hộ, còn lại rải rác ở các xã: Lượng Minh, Xá Lượng, Tam Đình, Thạch Giám, một số người đã kết hôn với người Thái và di cư xuống vùng Thanh Chương. Sự phân tán dân cư một cách nhỏ nhặt, làm cho cộng đồng vốn dân số rất ít này lại không sống tập trung với nhau nên việc đồng hóa văn hóa càng mạnh mẽ hơn. Sự thay đổi không gian xã hội cũng làm cho các chính sách hỗ trợ bị xé nhỏ và khó đạt được hiệu quả. Lẽ ra, ngay từ đầu, khi có kế hoạch di dân đối với những cộng đồng đặc biệt này cần có chính sách phù hợp, bảo đảm sự tập trung dân cư trong bối cảnh không gian xã hội nhất định để có thể thực hiện các dự án hỗ trợ hợp lý và hiệu quả. Còn hiện nay, sự phân tán rải rác ở nhiều địa phương cũng làm cho việc thực hiện chính sách thêm phần khó khăn hơn.

Thứ hai, cơ sở khoa học cho việc nhận thức và thực hiện đề án còn nhiều hạn chế. Cho đến nay, có rất ít nghiên cứu khoa học khách quan và nghiêm túc về người Ơ Đu. Nhiều vấn đề chưa được giải quyết rõ ràng từ nguồn gốc lịch sử, quan hệ tộc người lẫn sự biến đổi văn hóa trong quá trình lịch sử của cộng đồng này còn chưa được làm rõ. Đặc biệt, vẫn còn thiếu những nghiên cứu nghiêm túc về văn hóa truyền thống của người Ơ Đu và sự biến đổi văn hóa của họ trong quá trình lịch sử, cái nguyên gốc của họ như thế nào và những yếu tố nào được họ tiếp thu từ các nhóm khác… Dù nhấn mạnh đến vấn đề nghiên cứu khoa học để phục vụ đề án, từ xây dựng cơ sở khoa học của đề tài đến việc nghiên cứu quá trình thực hiện cũng như nghiên cứu, đánh giá tác động của dự án qua các giai đoạn, nhưng những việc đó đều chưa được thực hiện. Theo ông Lương Thanh Hải, Trưởng ban Dân tộc tỉnh Nghệ An, quá trình thực hiện đề án gặp nhiều khó khăn và tranh cãi về những vấn đề liên quan đến nhận thức về dân tộc Ơ Đu, nhưng do không có nhiều kinh phí để thực hiện công tác nghiên cứu. Đội ngũ nghiên cứu cũng đồng hành với những người thực hiện nhưng trường hợp đề án hỗ trợ phát triển dân tộc Ơ Đu thì thiếu hẳn công tác nghiên cứu. Nó cũng làm cho những người thực hiện không hình dung được hết về tác động của đề án đối với đời sống người dân.

Một vấn đề quan trọng nữa là quan điểm hỗ trợ đầu tư khi xây dựng dự án còn quá coi nặng yếu tố vật chất (đầu tư nhiều vào vốn vật chất) và xem kinh tế như là “chìa khóa” để giải quyết các vấn đề còn lại. Theo đó, với nguồn kinh phí 120 tỷ đồng sẽ được phân bổ cho các hạng mục, như: Đầu tư cơ sở hạ tầng: 50 tỷ đồng; hỗ trợ sản xuất: 30 tỷ đồng; hỗ trợ văn hóa: 20 tỷ đồng; hỗ trợ giáo dục: 18 tỷ đồng; các chi phí khác: 2 tỷ đồng; xây dựng và giải ngân hằng năm với các hạng mục nhất định. Riêng năm 2019, đề án tập trung hỗ trợ điều kiện phát triển sản xuất, như: Hỗ trợ khai khẩn đất đai, xây dựng chuồng trại, cung cấp con giống, vốn và tập huấn để nâng cao kiến thức; hỗ trợ bảo tồn văn hóa qua việc đầu tư mua sắm trang thiết bị, xây dựng nhà cộng đồng và tổ chức tuyên truyền, phổ biến một số giá trị văn hóa Ơ Đu; hỗ trợ đào tạo cán bộ… Mỗi hạng mục đều được phân bổ nguồn kinh phí theo từng thời điểm nhất định của đề án trên quan điểm tìm kiếm nguồn kinh phí để đầu tư vật chất cho các hoạt động nhằm nâng cao đời sống người dân qua việc phát triển kinh tế. Nhưng cũng phải nhận thức rằng, kinh tế không phải là “chìa khóa vạn năng” để giải quyết các vấn đề khác, nhất là các vấn đề văn hóa, xã hội. Có kinh phí, chúng ta có thể xây nhà văn hóa, mua trang thiết bị, công cụ, nhạc cụ, trang phục, nhưng khó khăn ở chỗ làm sao để người dân yêu thích, học tập và sử dụng được hết các trang bị này trong cuộc sống sau khi đề án kết thúc. Với người Ơ Đu, cái quan trọng là phát hiện được nội lực của họ và có biện pháp để phát huy nguồn nội lực đó vào quá trình phát triển của chính họ.

Mục tiêu xuyên suốt và quan trọng nhất trong tất cả chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội của các dân tộc thiểu số rất ít người là nâng cao năng lực tiếp cận các nguồn lực phát triển của người dân và xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Nhưng trong quá trình thực hiện, nếu như quan điểm và cách thức thực hiện không hợp lý và thiếu sự linh động cho phù hợp với điều kiện thì dễ gây ra những hệ quả tiêu cực, làm cho các chính sách không đạt được mục tiêu quan trọng trên. Trường hợp đề án hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội dân tộc Ơ Đu ở Nghệ An cũng không là ngoại lệ.

So với các cộng đồng khác ở Nghệ An, người Ơ Đu là cộng đồng có chỉ số lao động khá thấp. Khi có cán bộ đến khảo sát, họ cố gắng chứng minh rằng gia đình mình rất nghèo và cần phải được hỗ trợ. Dù so với các gia đình Khơ Mú bên cạnh thì họ cũng tương đương nhau về mọi phương diện. Hầu hết các gia đình Ơ Đu ở bản Văng Môn từ khi nhận nhà tái định cư để ở đến nay đã 13 năm nhưng họ không biết sửa sang nhà cửa khi bị hư hỏng. Khi tái định cư đến xã Nga My, người Ơ Đu được ưu tiên hỗ trợ nhiều hơn trong quá trình phát triển và điều kiện sản xuất của họ cũng không thua kém các cộng đồng bên cạnh. Với tâm lý như vậy, nếu chỉ đầu tư ngoại lực mà không tìm ra và phát huy được nội lực thì không những không giải quyết được việc bị đồng hóa văn hóa mà còn đẩy người dân vào sự tha hóa con người. Điều này sẽ đi ngược lại mục tiêu của đề án đặt ra.

Vấn đề thứ hai cũng vô cùng quan trọng là nguy cơ tạo ra những mâu thuẫn dân tộc từ bất bình đẳng trong việc thực hiện các chính sách hỗ trợ. Tinh thần của chính sách hỗ trợ là củng cố khối đoàn kết dân tộc thông qua việc hỗ trợ cho các dân tộc rất ít người. Tuy nhiên, nhiều khi thực tế lại đi ngược lại tinh thần đó. Có trường hợp ghi nhận được ở Tương Dương về việc người dân bày tỏ thái độ bất bình khi nhiều người Thái, người Khơ Mú cùng sinh sống bên cạnh người Ơ Đu, cùng canh tác trên một quả đồi, cùng uống nước một con suối, cùng nghèo khó như nhau nhưng người Ơ Đu lại được hỗ trợ nhiều trong khi các cộng đồng khác lại không được hoặc ít hơn. Điều này làm cho họ thiếu thiện cảm với người Ơ Đu, qua đó hình thành những mâu thuẫn giữa các hộ gia đình này với nhau và khi có đủ điều kiện sẽ bùng phát. Phải chăng, đã đến lúc cần phải suy nghĩ lại về việc lấy tộc người làm đơn vị để xây dựng chính sách nhằm bảo đảm sự bình đẳng?

Để gìn giữ được một dân tộc Ơ Đu đúng nghĩa thì cần trách nhiệm, sự hiểu biết về họ, lòng yêu thương về một dân tộc đang bị mai một của nhiều người, nhiều tầng lớp xã hội cùng tham gia, chung tay. Những yếu tố trên cho thấy việc xây dựng và thực hiện đề án hỗ trợ phát triển đối với người Ơ Đu là rất cần thiết, nhưng quan trọng hơn là phải xây dựng và thực hiện đề án sao cho hiệu quả nhất, làm cho người dân được hưởng nhiều lợi ích nhất và bảo đảm được mục tiêu mà đề án đưa ra. Muốn vậy, cần phải có nhiều người cùng tham gia vào để thảo luận nhằm giúp các nhà quản lý và những người trực tiếp thực hiện đề án lựa chọn được những cách làm hợp lý, hiệu quả nhất.

BÙI HÀO

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/bai-2-doi-dien-voi-nhung-thach-thuc-lon-603338