Với nhiều giải pháp đồng bộ, Tuyên Quang đang đẩy mạnh xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu, tạo đầu ra bền vững cho nông sản và sản phẩm OCOP.
Mô hình trồng chè không chỉ mang lại nguồn thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm mà còn tạo ra việc làm ổn định, góp phần giảm nghèo bền vững.
Từ lâu, chè Phú Thọ đã được nhiều người ưa chuộng vì hương vị rất riêng, không lẫn với các vùng chè khác như Thái Nguyên, Sơn La, Yên Bái, Lâm Đồng... Năm 2020, nhãn hiệu chứng nhận 'Chè Phú Thọ' được cấp văn bằng bảo hộ góp phần nâng cao uy tín, giá trị kinh tế, sức cạnh tranh cho các sản phẩm chè của tỉnh. Tỉnh cũng đã xây dựng vùng sản xuất chè có thương hiệu, khẳng định tính nhất quán của sản phẩm nổi tiếng đã qua nhiều thế hệ. Cùng với đó, phát triển chè theo Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) mở ra nhiều hướng đi mới cho sản phẩm chủ lực, thế mạnh của địa phương.
Mang trong mình phẩm chất của người lính Bộ đội Cụ Hồ, doanh nhân cựu chiến binh Nguyễn Trọng Hữu - Giám đốc Công ty TNHH Chè Hữu Hảo, hội viên Chi hội CCB tổ dân phố Hợp Minh 2, phường Âu Lâu đã nỗ lực đưa thương hiệu chè Lào Cai vươn xa, có chỗ đứng trên thị trường quốc tế.
Là một trong những tỉnh có diện tích chè lớn nhất cả nước, cây chè trở thành nguồn thu quan trọng, góp phần đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu nông sản của Phú Thọ. Hiện nay, với việc phát triển nhãn hiệu chứng nhận, xây dựng thương hiệu, đổi mới công nghệ chế biến và mở rộng thị trường tiêu thụ, chè Phú Thọ đang từng bước nâng cao giá trị, khẳng định chất lượng trên thị trường.
Với hơn 10.000ha chè, vùng Bắc Trung Bộ sở hữu tiềm lực lớn để phát triển ngành hàng này. Tuy nhiên, nhiều địa phương chưa tận dụng được hết tiềm năng do hạn chế trong liên kết sản xuất, thiếu đầu tư trong xây dựng thương hiệu sản phẩm và tìm kiếm thị trường.
Từ những lá chè già, ít được người dân sử dụng, anh Nguyễn Ngọc Tú, Giám đốc Hợp tác xã (HTX) Anh Tú, xã Vị Xuyên đã tận dụng để sản xuất trà Bancha, góp phần mở ra hướng đi mới cho cây chè địa phương.
7 tháng đầu năm 2025, chè Việt Nam chiếm 0,57% trong tổng lượng chè nhập khẩu của Pakistan, tăng nhẹ so với mức 0,56% cùng kỳ năm 2024.
Phần lớn nông sản sau thu hoạch vẫn tiêu thụ ở dạng tươi sống, chưa qua chế biến, khiến giá trị gia tăng thấp. Trong khi đó, các sản phẩm chế biến, ăn liền lại ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng nhờ tính tiện lợi và giá thành hợp lý. Thực trạng trên cho thấy, chế biến vẫn là điểm nghẽn khiến giá trị nông sản chưa được phát huy.
Trong khi hoạt động xuất khẩu chè của Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn với sự sụt giảm cả về khối lượng và giá trị, thị trường tiêu thụ nội địa lại ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ, đặc biệt ở phân khúc chè xanh chất lượng cao. Diễn biến này cho thấy sự dịch chuyển rõ nét trong định hướng phát triển của ngành chè Việt Nam, mở ra nhiều cơ hội mới cho sản phẩm chè trong nước.
Hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ đang tiêu thụ chè Việt Nam, đưa chúng ta vào nhóm 5 nước xuất khẩu chè lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, đằng sau con số ấn tượng ấy là một khoảng cách giá đáng suy ngẫm: chè xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 65% mức bình quân toàn cầu và bằng 55% giá xuất khẩu từ Ấn Độ, Sri Lanka – những cường quốc chè hàng đầu. Khoảng cách này phản ánh rõ hạn chế về giá trị gia tăng của chè Việt trên thị trường quốc tế.
Dù chỉ chiếm gần 1/3 sản lượng so với xuất khẩu nhưng thị trường nội địa mang lại giá trị cao hơn 1,64 lần nhờ giá bán bình quân gấp 4,3 lần hàng xuất khẩu.
Từ ngày 24-27/6, Đại sứ Việt Nam tại Pakistan Phạm Anh Tuấn đã có chuyến công tác tại Karachi, thành phố với trên 20 triệu dân, là trung tâm tài chính, thương mại và công nghiệp của Pakistan nhằm thúc đẩy hợp tác trên nhiều lĩnh vực then chốt giữa hai nước.
Nhằm thúc đẩy hợp tác thương mại, tăng cường xuất khẩu hàng Việt Nam theo tiêu chuẩn Halal sang Pakistan, cuối tháng 6 vừa qua, Đoàn công tác Đại sứ quán Việt Nam tại Pakistan do Đại sứ Phạm Anh Tuấn dẫn đầu đã có chuyến thăm, làm việc tại thành phố Karachi, tỉnh Sindh - trung tâm tài chính, thương mại, công nghiệp của Pakistan.
Với dân số hơn 240 triệu người và thói quen tiêu dùng chè (chai) rất phổ biến của người dân Pakistan, đã đưa quốc gia Nam Á này trở thành thị trường xuất khẩu chè lớn nhất của Việt Nam.
Nhằm phát triển ngành chè Thái Nguyên gắn với mục tiêu cơ cấu lại ngành Nông nghiệp theo hướng bền vững, hiện đại, Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 3/2/2025, trong đó đề ra mục tiêu phấn đấu tổng giá trị sản phẩm thu được từ cây chè đến năm 2030 đạt 25 nghìn tỷ đồng.
Từ năm 1993 trở về trước, sản phẩm chè Việt Nam nói chung và chè Bắc Thái (nay là Thái Nguyên) chỉ xuất khẩu sang 3 nước là Nga, Anh và Trung Quốc, nay đã mở rộng thị trường tiêu thụ lên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ. Thời hoàng kim, hoạt động xuất khẩu chè của tỉnh khá nhộn nhịp với hàng chục công ty thu mua xuất khẩu, đặt nhà máy chế biến ở nhiều vùng chè.
Hồng trà theo cách gọi hiện đại còn được gọi là chè đen, là loại trà đã lên men toàn phần, với vị chát nhẹ hơn, ít đắng, ngọt hậu, có nhiều tác dụng với sức khỏe.
Là huyện có diện tích cây chè lớn nhất tỉnh, Tân Sơn đang tập trung xây dựng và phát triển các chuỗi liên kết trong hoạt động sản xuất, chế biến chè, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và thu nhập cho người dân khu vực nông thôn.
Giá vàng đồng loạt tăng; dự báo rủi ro nợ xấu tiếp tục tăng mạnh; dự báo giá tiêu có thể giảm nhẹ trong ngắn hạn… là những tin tức kinh tế đáng chú ý ngày 14/6.
Nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ những năm qua đã và đang từng bước nâng cao trình độ sản xuất theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu thị trường. Nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh sẵn có, tỉnh chú trọng thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị.
Chiều 14/5, Thương vụ Việt Nam tại Algeria kiêm nhiệm Senegal phối hợp tổ chức Hội nghị giao thương trực tuyến Việt Nam - Senegal.
Ngày 10/4, Sở Công Thương tỉnh Lâm Đồng cho biết, các mặt hàng xuất khẩu địa phương tiếp tục có sự tăng trưởng, sau 3 tháng đã đạt giá trị gần 300 triệu USD, tăng 30,27% so với cùng kỳ năm 2024.
Những năm qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Đồng Hỷ nhận ủy thác và quản lý tốt nguồn vốn ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) giúp hội viên vay vốn phát triển sản xuất, tăng thu nhập. Từ nguồn vốn vay, nhiều hội viên phụ nữ có điều kiện sản xuất, kinh doanh, ổn định cuộc sống gia đình, vươn lên thoát nghèo, từng bước làm giàu chính đáng.
Do phần lớn chè của Việt Nam xuất đi các nước là hàng thô, chưa qua chế biến sâu, đóng gói đơn giản, thiếu nhãn mác... nên giá xuất khẩu chè trung bình của Việt Nam chỉ bằng khoảng 65% so với mức giá bình quân của thế giới. Đây là bài toán cần có lời giải đối với ngành chè.
Để nâng cao được giá bán và xây dựng được thương hiệu trên thị trường quốc tế, không còn cách nào khác, các HTX và doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng vào khâu chế biến sâu, tìm ra những sản phẩm, thức uống mới bằng những công thức, quy trình cụ thể từ nguồn chè nguyên liệu dồi dào trên cả nước.
Tháng 2/2025, giá xuất khẩu chè bình quân của Việt Nam đạt mức 1.556 USD/tấn. Lũy kế hai tháng đầu năm 2025, giá xuất khẩu chè bình quân đạt 1.633 USD/tấn.
Năm 2024, Việt Nam là thị trường cung cấp chè lớn thứ 14 cho Anh, đạt 994 tấn, trị giá 2,01 triệu USD, tăng 356% về lượng và 143,2% về trị giá so với cùng kỳ.
Chất lượng sản phẩm chè Việt Nam không thua kém bất kỳ quốc gia sản xuất chè nào trên thế giới. Tuy nhiên, phần lớn các sản phẩm nổi tiếng khi xuất khẩu ra nước ngoài đến tay người tiêu dùng lại không mang thương hiệu chè Việt Nam.
Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), thống kê của cơ quan Hải quan Đài Loan (Trung Quốc) cho thấy, tính theo lượng, Việt Nam hiện là nguồn cung chè đen lớn nhất cho thị trường Đài Loan.
Sau 4 năm liên tục suy giảm, thị phần chè Việt Nam xuất khẩu sang Đài Loan (Trung Quốc) đang có dấu hiệu phục hồi, đặc biệt ở phân khúc chè xanh và chè đen. Đây là tín hiệu tích cực cho ngành chè Việt Nam trong bối cảnh thị trường chè trên thế giới đang suy giảm.
Sau 4 năm giảm liên tiếp, thị phần chè của Việt Nam tại thị trường Đài Loan (Trung Quốc) tăng trở lại.
Mỗi năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng 145 nghìn tấn chè, dự báo tốc độ tăng khối lượng xuất khẩu chỉ 0,8%/năm. Để tăng được giá trị của chè xuất khẩu, cần thúc đẩy canh tác chè hữu cơ, mở rộng trồng các giống chè đặc sản, đồng thời đầu tư vào chế biến đa dạng sản phẩm…
Những năm vừa qua, xuất nhập khẩu luôn khẳng định vị trí là điểm sáng trên bức tranh kinh tế của tỉnh Tuyên Quang với tốc độ tăng trưởng ngày càng tăng cao.
Năm 2024, Việt Nam là thị trường cung cấp chè xanh lớn thứ 7 cho Hoa Kỳ, đạt 728 tấn, trị giá 1,8 triệu USD, tăng 70,1% về lượng và tăng 32,4% về trị giá.
Năm 2025 là năm về đích thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII. Tỉnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu hàng hóa phấn đấu đạt 190 triệu USD. Để đạt mục tiêu này, các cấp ngành trong tỉnh, các doanh nghiệp đã và đang có kế hoạch căn cơ, đa dạng thị trường, tăng chất lượng sản phẩm xuất khẩu để tránh cú 'sốc' thương mại.
Nghị quyết số 57-NQ/TW được ký ban hành ngày 22-12-2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được xem là bước ngoặt quan trọng, tạo động lực mới cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên số. Tỉnh Tuyên Quang đã nhanh chóng bắt nhịp tinh thần đổi mới với những giải pháp cụ thể nhằm thực hiện hiệu quả Nghị quyết.
Thay đổi phương thức sản xuất, đẩy mạnh áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tăng cường xúc tiến thương mại, đặc biệt là thương mại điện tử; tìm kiếm thị trường tiêu thụ, quảng bá và giới thiệu sản phẩm... là hướng đi tất yếu để các làng nghề phát triển trong xu thế hiện nay. Vì vậy, nhiều làng nghề trên địa bàn tỉnh đã mạnh dạn thay đổi nếp nghĩ, cách làm, đưa sản phẩm của mình vươn ra các thị trường lớn, nâng cao doanh thu, khẳng định được thương hiệu.