Để đi đến ngày chiến thắng…
Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, những trang hồi ký của các tướng lĩnh và những tác phẩm văn chương sử thi giai đoạn 1945-1975 không chỉ là tư liệu, mà còn là linh hồn của một thời đại hào hùng. Thông qua hồi ký, chúng ta không chỉ thấy lại một cuộc chiến gian khổ mà còn chạm vào chiều sâu của phẩm giá con người Việt Nam. Ở đó, sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật đã hòa quyện làm một, cùng cất lên bản hợp xướng về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và ý chí quyết chiến để đi đến ngày chiến thắng cuối cùng, kiến tạo một kỷ nguyên độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Bộ đội ta đánh chiếm sân bay Buôn Ma Thuột trong Chiến dịch Tây Nguyên - Mở đầu cho cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975. Ảnh: ST
Trong kho tàng hồi ký của các tướng lĩnh trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, "Ký ức Tây Nguyên" (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2000) của Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp được đánh giá là một trong những tác phẩm nổi bật và có sức lay động mạnh mẽ nhất. Giá trị của cuốn sách quý dài 508 trang này đã được Đại tướng Chu Huy Mân nêu bật ngay trong lời giới thiệu ngắn gọn nhưng vô cùng hàm súc. Theo Đại tướng, tác phẩm không chỉ dành cho những người đã từng sống, chiến đấu tại chiến trường gian khổ này mà ngay cả những ai chưa từng đặt chân đến Tây Nguyên cũng có thể hình dung rõ nét về những năm tháng cực kỳ gian nan nhưng rất đỗi hào hùng của quân và dân ta. Cuốn hồi ký đã hiện thực hóa một ý chí lớn: Đánh bại tư tưởng sợ Mỹ, đồng thời làm nổi bật quan điểm quần chúng nhân dân chính là lực lượng chủ yếu làm nên lịch sử.
Dù nội dung cốt lõi tập trung vào các diễn biến của Chiến dịch Tây Nguyên, nhưng tầm phổ quát của cuốn hồi ký lại bao trùm cả không gian và thời gian của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ngay từ hệ thống tên chương mục, người đọc đã có thể cảm nhận được nhịp đập hối hả của lịch sử: Từ "Thời khắc lịch sử", "Dám đánh và quyết thắng", "Củng cố lực lượng, tạo thế chiến trường", "Vượt qua thử thách, trụ bám chiến trường" cho đến "Chiến trường sáng tạo", "Bước ngoặt quyết định" và cuối cùng là "Trận quyết chiến cuối cùng".
Thông qua "ký ức" của một vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm, lịch sử hiện lên với những tư liệu sống động nhất. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tầm nhìn chiến lược vĩ mô về thời cơ lịch sử, cách tạo bàn đạp chiến lược để quyết định cục diện chiến tranh, với những chi tiết cụ thể, đời thường nơi trận tuyến. Mỗi trang sách của Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp đều mang đậm hơi thở chiến trận; mỗi con chữ đều là sự kết tinh của trí tuệ và những phân tích sâu sắc về quyết tâm giải phóng Tây Nguyên.
Hồi ký "Ký ức Tây Nguyên" đã đúc rút những bài học mang tính thời đại: Trước hết là sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Quân ủy; thứ hai là sức mạnh từ sự ủng hộ tuyệt đối của nhân dân. Cuốn sách chinh phục người đọc bằng những chi tiết mang tính giáo dục nhân văn cao cả, như hình ảnh cô gái Ba Na tự làm mình bị thương để vào đồn địch xin thuốc về cứu chữa cho chiến sĩ ta. Đó là biểu tượng cho cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, nơi những bà mẹ, ông bố và cả những em bé cũng sẵn sàng đi bên bộ đội trong các cuộc hành quân. Sức mạnh của ngôn từ trong cuốn sách mạnh mẽ như những cánh quân ào ạt tấn công vào dinh lũy kẻ thù, lột tả ý chí quyết tâm của những chàng trai đang độ tuổi đẹp nhất, sẵn sàng hiến dâng dòng máu của mình cho Tổ quốc .
Để đi đến ngày chiến thắng, nếu nhìn từ góc độ văn chương, chúng ta sẽ thấy một dòng chảy đồng điệu giữa sự thật và sáng tạo nghệ thuật. Dựa trên cứ liệu của văn học sử thi giai đoạn 1945-1975, chúng ta nhận ra một ký ức sinh động của cuộc chiến tranh vệ quốc. Khi đế quốc Mỹ nhảy vào xâm lược miền Nam, cả nước đã đoàn kết thành một khối theo tinh thần "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai" của nhà thơ Tố Hữu. Trong bối cảnh đó, "không khí sử thi" đã bừng bừng mạnh mẽ, tạo nên những tiểu thuyết sử thi nguyên khối, tinh chất và không pha tạp.
Hàng loạt tác phẩm kinh điển đã ra đời như "Vào lửa", "Hòn Đất", "Gia đình má Bảy", "Ở xã Trung Nghĩa", "Đường trong mây", "Vùng trời", "Đất Quảng", "Dấu chân người lính", "Mẫn và tôi". Nhà nghiên cứu Nikulin (người Nga) từng nhận xét các nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu như được bao bọc trong một "bầu không khí vô trùng". Nhận định này hoàn toàn đúng với các nhân vật sử thi tiêu biểu thời kỳ này như chị Sứ, Lữ, Mẫn hay Hảo. Cảm hứng sử thi hào sảng đã tạo ra những nhân vật đậm chất lý tưởng, như những vầng hào quang tỏa chiếu ánh sáng hướng bạn đọc đi về phía cái cao cả và anh hùng.
Trong số đó, tiểu thuyết "Dấu chân người lính" của Nguyễn Minh Châu là một thành tựu rực rỡ của văn học hiện đại. Tác phẩm không chỉ xây dựng thành công những điển hình anh hùng như Kinh hay Lữ, mà còn thể hiện trọn vẹn tinh thần của thời đại: Cả dân tộc một lòng đứng dậy đánh giặc theo tiếng gọi "Lớp cha trước lớp con sau/ Đã thành đồng chí chung câu quân hành". Con người sử thi thời đó sống vì cái chung hơn cái riêng; cái "tôi" cá nhân dường như trở nên nhỏ bé trước cái "ta" cộng đồng. Đó là những con người "trong vắt" của lý tưởng và niềm tin, rất khó tìm thấy ở họ chút gì riêng tư vụ lợi.
Ngay cả trong lĩnh vực riêng tư nhất là tình yêu, văn chương giai đoạn này cũng cho thấy sự hòa quyện tuyệt vời vào tình yêu đất nước; tình yêu nhỏ nằm gọn trong tình yêu lớn. Các cặp đôi như Lữ - Hiền, Quỳnh - Hảo, Thiêm - Mẫn hay Ngạn - Quyên đều là những nhân vật sử thi từ trong suy nghĩ đến cách "yêu đương". Trong bức thư người vợ gửi cho chồng nơi tiền tuyến, dù đã có tuổi hay còn trẻ, họ đều xác định rõ nhiệm vụ: "Ở nhà mọi người đều bình yên và đang tích cực sản xuất để góp phần cùng tiền tuyến chống Mỹ cứu nước". Những lá thư ấy không chỉ gửi cho riêng người chồng, mà còn gửi cho cả đồng đội của chồng, thể hiện một sự gắn kết keo sơn như người trong một nhà.
Sự logic của thời đại sử thi còn nằm ở chỗ: Khi đồng chí coi nhau như anh em ruột thịt, thì anh em cha con ruột thịt lại coi nhau như đồng chí. Thậm chí, yêu nhau người ta cũng coi nhau là đồng chí, như câu thơ của Tố Hữu: "Rồi hai đứa hôn nhau hai người đồng chí". Khi cha con chính ủy Kinh và Lữ gặp nhau ngoài mặt trận, người bố đã nói bằng giọng của cấp trên để hỏi về quyết tâm thư đi chiến trường, cho thấy tinh thần "nén tình riêng vì nghĩa lớn". Đó cũng là lý do vì sao trước cái chết, chị Sứ chỉ nghĩ về Đảng, về cách mạng với sự kiên trung tuyệt đối như những bậc tiền bối Minh Khai hay Võ Thị Sáu.
Cái chết của con người sử thi không phải là sự kết thúc, mà là cái chết "gieo mầm" cho sự cao cả. Hình ảnh người chiến sĩ điện thanh trước khi hy sinh vẫn ngẩng cao đầu nhìn lá cờ đỏ thắm bay trên nền trời xanh thẳm là một biểu tượng bất tử. Không gian sử thi còn được hiện thực hóa qua hình tượng những con "đường vui", những trận tuyến "đẹp", nơi con người tìm thấy nguồn vui vô tận trong cuộc chiến đấu giữ nước.
Nhìn lại cuốn "Ký ức Tây Nguyên" và nền văn học sử thi giai đoạn 1945-1975, chúng ta thấy một quy luật kỳ diệu: Giữa hồi ký - sự thật và văn chương - hư cấu lại không có nhiều khác biệt. Đó là bởi thực tế cuộc sống thời ấy thực sự là một bài ca anh hùng. Ra trận là để giữ nước, để được làm người đúng nghĩa với đạo lý "chết vinh còn hơn sống nhục". Văn chương chỉ cần viết đúng như cuộc sống đã là một thành công rực rỡ. Nhà thơ Tố Hữu đã nói thay lời lịch sử và văn chương: "Chúng muốn đốt ta thành tro bụi/ Ta hóa vàng nhân phẩm lương tâm/ Chúng muốn ta bán mình ô nhục/ Ta làm sen thơm ngát giữa đầm".
Sự hội ngộ giữa ký ức của vị chỉ huy và tâm hồn của nhà văn đã tạo nên một bức tranh toàn cảnh về sức mạnh Việt Nam, giúp thế hệ hôm nay hiểu sâu sắc hơn về cái giá của hòa bình và con đường mà cha ông đã đi để cập bến Ngày Chiến thắng huy hoàng./.
Nguồn Kiểm Toán: http://baokiemtoan.vn/de-di-den-ngay-chien-thang-47458.html











