Xây thương hiệu, nâng giá trị chè xanh Phú Thọ

PTĐT - Phú Thọ được coi là 'cái nôi' của ngành chè Việt Nam. Từ điều kiện, khí hậu thổ nhưỡng thích hợp cho phát triển cây chè, Phú Thọ có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển chè nói chung, chè xanh nói riêng. Với xu hướng phát triển sản xuất chè xanh ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay đang tạo ra nhiều lợi thế cho việc xây dựng, phát triển thương hiệu chè xanh Phú Thọ.

Kỳ I: Những lợi thế riêng có

PTĐT - Phú Thọ được coi là “cái nôi” của ngành chè Việt Nam. Từ điều kiện, khí hậu thổ nhưỡng thích hợp cho phát triển cây chè, Phú Thọ có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển chè nói chung, chè xanh nói riêng. Với xu hướng phát triển sản xuất chè xanh ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay đang tạo ra nhiều lợi thế cho việc xây dựng, phát triển thương hiệu chè xanh Phú Thọ.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Hải chỉ đạo phát triển vùng nguyên liệu sản xuất chè xanh ở Thanh Sơn.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Hải chỉ đạo phát triển vùng nguyên liệu sản xuất chè xanh ở Thanh Sơn.

Cây chè đã có mặt trên vùng đất Phú Thọ từ hàng trăm năm trước. Ngay từ năm 1890, người Pháp đã xây dựng đồn điền trồng chè đầu tiên với quy mô 60ha tại xã Tình Cương, huyện Cẩm Khê, năm 1918 xây dựng nhà máy chè hiện đại tại Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, mở đầu cho thời kỳ phát triển công nghiệp chè ở Việt Nam. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ nhiều nông trường quốc doanh trồng chè được thành lập trên địa bàn tỉnh như: Nông trường chè Vân Lĩnh, Phú Sơn… và nhà máy chè đen đầu tiên được Liên Xô giúp đỡ xây dựng tại Thanh Ba. Năm 1957, nhà máy chè xanh được xây dựng tại Hương Xạ, huyện Hạ Hòa. Đó có thể là những cơ sở đặt nền móng đầu tiên cho ngành chè Việt Nam trên quê hương Phú Thọ. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng quan tâm đến phát triển ngành sản xuất chè. Người đã có chuyến thăm lịch sử tại nhà máy chè Thanh Ba. Từ nhiều năm trước, Phú Thọ vốn có vùng chè truyền thống nổi tiếng như vùng chè Thái Ninh, huyện Thanh Ba với cây chè trung du búp tím.
Đồng chí Nguyễn Văn Đức- Bí thư Huyện ủy Thanh Ba cho biết: “Thanh Ba là một trong những vùng chè lớn của tỉnh với diện tích gần 1.500ha gắn liền với lịch sử của ngành chè Việt Nam nói chung và ngành chè Phú Thọ nói riêng, Người dân Thanh Ba có kinh nghiệm trong trồng, chăm sóc, thu hái và chế biến chè. Vì vậy nhiệm kỳ 2020-2025, Đảng bộ huyện Thanh Ba vẫn xác định chè là cây trồng chủ lực cần quan tâm, có cơ chế khuyến khích tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp thay thế diện tích chè cằn xấu, năng suất thấp bằng các giống chè chất lượng cao, phù hợp với chế biến chè xanh đặc biệt là giống chè búp tím đặc sản của địa phương”. Với điều kiện thổ nhưỡng thích hợp cho cây chè, Phú Thọ có lợi thế để phát triển chè theo hướng bền vững. Phát triển chè luôn được tỉnh xác định là một trong những chương trình sản xuất nông nghiệp trọng điểm, cần quan tâm chỉ đạo, đầu tư phát triển. Việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật (TBKT), đầu tư thâm canh, đưa cơ giới vào sản xuất được đẩy mạnh đã hình thành vùng sản xuất tập trung, có khối lượng hàng hóa lớn gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân nông thôn.Đến xã Tất Thắng, huyện Thanh Sơn, chúng tôi đi giữa một màu xanh ngút ngát của những vạt chè hai bên đường được trải rộng từ đồi thấp lên đồi cao, len lỏi vào những mảnh vườn trong nhà dân. Xã có khoảng 70ha trồng chè, sản lượng chè búp tươi năm 2019 đạt hơn 8 nghìn tấn. Từ việc áp dụng TBKT vào trồng chè nguyên liệu phục vụ chế biến chè xanh đã cho các hộ trồng chè trong xã có cuộc sống khá giả hơn. Anh Đinh Mạnh Cường, khu 15 là người đi đầu trong việc trồng chè giống mới ở đây cho biết: “Gia đình trồng được hơn 3ha chè Bát Tiên giờ mỗi lứa đã thu vài tấn búp tươi, một năm hái sáu, bảy lứa. Với thời giá như bây giờ, năm nay ước tính sẽ thu khoảng trăm triệu đồng”.

Vùng nguyên liệu sản xuất chè xanh gắn với phát triển du lịch ở xã Long Cốc, huyện Tân Sơn.

Vùng nguyên liệu sản xuất chè xanh gắn với phát triển du lịch ở xã Long Cốc, huyện Tân Sơn.

Đến nay, tổng diện tích chè của tỉnh đạt 16,5 nghìn ha, năng suất chè tươi đạt trên 11 tấn/ha. Sản lượng búp chè tươi đạt gần 183 nghìn tấn/năm; trở thành tỉnh đứng thứ 2 cả nước về diện tích, năng suất, sản lượng chè (chỉ sau Thái Nguyên). Trong những năm qua, ngành nông nghiệp đã phối hợp với các cấp, các ngành thực hiện rà soát, sắp xếp, phân vùng nguyên liệu cho các cơ sở chế biến, do đó bên cạnh vùng nguyên liệu chế biến chè đen bước đầu đã hình thành 136 vùng nguyên liệu phục vụ chế biến chè xanh. Diện tích chè giống cũ, già cỗi, kém chất lượng được thay thế bằng các giống mới, có năng suất, chất lượng cao. Một số huyện đưa vào trồng thử nghiệm giống chè Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên để chế biến chè xanh, chè Ô Long. Trên địa bàn tỉnh đã có hàng trăm cơ sở chế biến chè xanh, chè đen. Một thế mạnh nữa của tỉnh là có Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc nghiên cứu chuyên sâu về cây chè. Viện đã nghiên cứu thành công hàng trăm đề tài cấp nhà nước, cấp bộ về lai tạo tuyển chọn các giống chè, các kỹ thuật canh tác, chế biến chè nội tiêu và xuất khẩu…Trong lịch sử sản xuất chè Phú Thọ đã có những nhãn hiệu sản phẩm chè xanh nổi tiếng khắp cả nước vào thập kỷ 60-80 của thế kỷ trước, đó là các nhãn hiệu chè xanh Ba Đình, Hồng Đào, Thanh Hương... được sản xuất tại vùng nguyên liệu ở Hạ Hòa và chế biến tại nhà máy chè Hương Xạ- Hạ Hòa. Sản phẩm được đóng trong hộp thiếc 100g và gói 50g với 3 lớp giấy (giấy nâu trong cùng, giấy thiếc chống ẩm ở giữa và giấy nhãn chè ngoài cùng) là sản phẩm chè xanh chất lượng cao dùng phân phối cho cán bộ mỗi dịp Tết đến, xuân về, làm nức lòng người mọi miền đất nước bởi hương thơm, vị đậm đà của chè Phú Thọ.Sau năm 1986, do nhu cầu sản xuất chè đen phục vụ xuất khẩu rất lớn; mặt khác hệ thống phân phối chè xanh qua Công ty nông thổ sản (Bộ Công thương) bị thu hẹp để chuyển dần sang cơ chế thị trường nên Nhà máy chè Hạ Hòa đã chuyển sang chế biến chè đen; nhiệm vụ sản xuất chè xanh của nước ta thời kỳ đó tập trung tại Nhà máy chè Kim Anh, Hà Nội nên thương hiệu chè xanh Phú Thọ bị mai một dần.Tuy nhiên, chè xanh Phú Thọ vẫn được duy trì sản xuất với quy mô nhỏ lẻ ở hộ gia đình, một số hợp tác xã và số ít doanh nghiệp. Theo các chuyên gia dự báo, do có sự thay đổi nhu cầu sử dụng chè trên thế giới dẫn tới nhu cầu sản xuất chè xanh nhiều hơn (53% chè xanh) và giá xuất khẩu chè xanh cũng có xu hướng tăng cao hơn chè đen. Vì vậy, hướng phát triển sản phẩm chè của Phú Thọ chủ yếu là chè xanh và chè chất lượng cao. Cũng theo các chuyên gia, dự báo thị trường chè sản phẩm chè nội tiêu của Việt Nam là chè xanh, vì thế chè xanh của Phú Thọ đang là lợi thế và có giá trị cao cho tiêu dùng nội địa. Thị trường tiêu thụ chè xanh của Phú Thọ rất có triển vọng. Hơn nữa Phú Thọ nổi tiếng bởi vùng đất cội nguồn dân tộc Việt Nam với Lễ hội Đền Hùng, yếu tố đặc trưng văn hóa của tỉnh cũng là những lợi thế đặc biệt để các doanh nghiệp, HTX gây ấn tượng cho khách hàng trong quá trình xây dựng thương hiệu nói chung, thương hiệu chè xanh nói riêng. Việc xây dựng thành công thương hiệu chè xanh góp phần mở rộng sản xuất, nâng cao vị thế và sức cạnh tranh của sản phẩm chè Phú Thọ trên thị trường, làm tăng giá trị, uy tín của sản phẩm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống của nhân dân, tăng nguồn thu ngân sách, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh…Kỳ II: Đổi mới tổ chức sản xuất

Nguồn Phú Thọ: http://baophutho.vn/kinh-te/202011/xay-thuong-hieu-nang-gia-tri-che-xanh-phu-tho-173765