Tấm gương ngời sáng của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Tấm gương cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không chỉ là di sản lịch sử mà còn là kim chỉ nam sống động cho việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng
Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1906 - 2000), thường được gọi là "anh Tô", "bác Tô", là một trong những nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng - nhà lãnh đạo, nhà văn hóa
Sinh ra tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi trong một gia đình công chức, từ sớm ông đã tiếp thu truyền thống yêu nước của dân tộc. Năm 1925, ông tham gia phong trào cách mạng, rồi trở thành học trò xuất sắc, cộng sự thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Với 75 năm hoạt động cách mạng liên tục, 41 năm là Ủy viên Trung ương Đảng, 35 năm Ủy viên Bộ Chính trị, 32 năm giữ chức Thủ tướng Chính phủ (1955 - 1987), và 10 năm làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ông Phạm Văn Đồng đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Cuộc đời bác Tô là minh chứng sống động cho phẩm chất cao đẹp của người cộng sản: tận trung với nước, tận hiếu với dân; dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm; cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư.
Ông luôn chống quan liêu, tham ô, lãng phí; nói đi đôi với làm; nêu gương về đạo đức, nhân cách; có tấm lòng nhân ái, bao dung. Dù giữ cương vị cao nhất trong Chính phủ suốt hơn 3 thập kỷ, lối sống của đồng chí vẫn giản dị, khiêm tốn, thanh bạch đến lạ thường.
Ông dùng chiếc xe đạp để đi lại, rèn luyện sức khỏe, thậm chí tự đạp xe đến nơi làm việc thay vì dùng xe công. Đồ dùng sinh hoạt hằng ngày như chén đĩa, ly trà được giữ gìn cẩn thận, ít thay đổi.
Cuộc sống riêng tư của ông đạm bạc, không xa xỉ, không phô trương, thể hiện rõ tinh thần kiệm - tiết kiệm, không hoang phí, ghét thói xa hoa. Đồng chí luôn gần gũi với nhân dân, lắng nghe ý kiến quần chúng, sống chan hòa, ôn hòa, giàu lòng nhân ái.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một điển hình về một nhà lãnh đạo đồng thời là một nhà văn hóa, vốn có rất nhiều trong thế hệ lãnh đạo đầu tiên của Đảng ta, cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí Trường Chinh, Xuân Thủy hay Đại tướng Võ Nguyên Giáp…
Thủ tướng Phạm Văn Đồng dù rất bận rộn với công tác điều hành Chính phủ vẫn dành tâm huyết lớn cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Ông quan tâm đến thời đại Hùng Vương, các danh nhân văn hóa như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu…; nhấn mạnh giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt - ngôn ngữ thiêng liêng của dân tộc.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng và bài viết bảo vệ tiếng Việt khỏi sự lai tạp
Từ năm 1966, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết về việc bảo vệ tiếng Việt khỏi sự lai tạp, đồng thời chỉ đạo phương pháp học ngoại ngữ hiệu quả. Đến năm 1979, sau khi đất nước thống nhất, vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt tiếp tục được ông nhắc lại.
Những bài viết này không chỉ là lý luận mà còn là định hướng thực tiễn, góp phần bảo vệ tiếng Việt nói riêng và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói chung.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng là tấm gương sáng ngời về việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ông suốt đời tu dưỡng đạo đức cách mạng trong sáng, coi việc noi gương Bác là nhiệm vụ thiêng liêng.
Ngay cả những năm cuối đời (sau khi nghỉ hưu năm 1987), ông vẫn nghiên cứu sâu sắc về tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa Việt Nam và lo lắng về tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Bài báo cuối cùng của ông năm 93 tuổi, với tựa đề "Nêu cao danh hiệu Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam", đăng trên Báo Nhân Dân ngày 19-5-1999, gần 1 năm trước khi ông qua đời, là lời nhắc nhở sâu sắc về việc giữ gìn phẩm chất cách mạng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
Ông nhấn mạnh rằng danh hiệu đảng viên phải gắn liền với trách nhiệm, liêm khiết và phục vụ nhân dân.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng và các chiến sĩ Công an nhân dân trong ngày ngành Công an đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân (5-1-1980). Ảnh: Tư liệu TTXVN
Những bài học quý giá từ Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức như suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên - thậm chí một số cán bộ cấp cao vi phạm nghiêm trọng, dẫn đến xử lý kỷ luật, truy cứu hình sự - tấm gương cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng càng trở nên quý giá và cần thiết.
Bài học đầu tiên là nêu gương trong đạo đức, lối sống. Cán bộ, đảng viên phải thực hiện nghiêm túc phương châm "trên trước, dưới sau", "trong Đảng trước, ngoài Đảng sau". Lãnh đạo phải gương mẫu trước, từ lời nói đến việc làm, từ công việc đến sinh hoạt cá nhân, từ nơi làm việc đến nơi cư trú. Như Thủ tướng Phạm Văn Đồng, dù ở vị trí cao vẫn giữ lối sống giản dị, liêm khiết, không để quyền lực làm tha hóa bản thân.
Bài học thứ hai là chống quan liêu, tham ô, lãng phí. Ông luôn coi lãng phí là tội ác, tiết kiệm là giữ liêm khiết và là một điển hình về lối sống giản dị. Hiện nay, khi kinh tế phát triển, một số cán bộ dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân, lợi dụng chức quyền trục lợi. Cần học theo Thủ tướng Phạm Văn Đồng: chí công vô tư, đặt lợi ích dân tộc, nhân dân lên trên hết; không để "giàu sang quyến rũ, nghèo khổ lay chuyển, uy lực khuất phục".
Bài học thứ ba là nói đi đôi với làm, gắn lý luận với thực tiễn. Thủ tướng Phạm Văn Đồng không chỉ lý luận suông mà luôn hành động cụ thể, chịu trách nhiệm trước Đảng và nhân dân. Cán bộ hiện nay cần rèn luyện tính trung thực, dám nghĩ, biết làm, dám chịu trách nhiệm; tránh tình trạng "nói nhiều, làm ít" hay "nói một đằng, làm một nẻo".
Bài học thứ tư là gần gũi, lắng nghe nhân dân. Thủ tướng Phạm Văn Đồng luôn khiêm tốn, nhân ái, tôn trọng cán bộ cấp dưới và người dân, coi nhân dân là gốc. Trong thời đại số và hội nhập, cán bộ phải tránh tình trạng xa rời quần chúng, phải thường xuyên tiếp xúc, lắng nghe ý kiến để xây dựng niềm tin.
Tấm gương cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không chỉ là di sản lịch sử mà còn là kim chỉ nam sống động cho việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII, XIII).
Mỗi cán bộ, đảng viên cần tự giác tu dưỡng, rèn luyện, đấu tranh chống suy thoái, để xứng đáng với danh hiệu đảng viên.
Noi gương Thủ tướng Phạm Văn Đồng, chúng ta sẽ góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo đất nước phát triển bền vững, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.











