Ðịa danh La Gi dễ nhầm lẫn trong cách đọc
La Gi hiện nay là một phường, nằm hướng Tây Nam tỉnh Lâm Đồng. Từ trước tháng 7/2025 là địa danh thị xã La Gi thuộc tỉnh Bình Thuận.

Địa danh La Gi xuất phát từ phần đất gồm các làng nằm ở cửa sông La Di (còn gọi là sông Dinh). Qua sách xưa, trong châu bản “Doanh điền biểu văn” của Nguyễn Thông năm 1877 và Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán nhà Nguyễn soạn xong năm 1882 đã từng đề cập đến địa danh La Di gắn liền với vị trí địa lý tự nhiên ngày nay. Như vậy địa danh La Di từ khá lâu đã có trước làng Hàm Tân và sau đó là huyện Hàm Tân được thành lập vào năm 1916. Tuy nhiên, dưới thời Pháp thuộc bản đồ tỉnh Bình Thuận trích trong “Annuaire général de L’Indochine 1910” và các văn bản hành chính của Tòa công sứ Bình Thuận đều viết “Ladi” thành “Lagi” tồn tại đến bây giờ. Trong cách viết xưa các địa danh theo tự dạng tiếng Hán (vẫn chưa phân biệt chữ viết dị thể hay tự hình, tất nhiên đều theo âm đọc từ chữ Chăm) và có thể sau đó kết hợp thêm một tính từ như Hàm Tân. Cũng có giải thích, đất La Di ngày xưa là vùng Nưgar Ladik của xứ Panduranga cũ, người Chăm đọc là La-tik. Sau đó danh từ La-Dik được phiên âm là La Di (?).
Thông thường, địa danh đều có liên quan đến địa vật, địa hình thiên nhiên, cầm thú hoặc từ sự sùng bái của con người. Nhưng trong quá trình “cộng cư” ngôn ngữ với người bản địa đã được Việt hóa trở thành ngữ âm địa phương rồi ghi chép lên bản đồ hoặc có phần do người dịch để phục vụ cho yêu cầu hành chính đã làm sai lệch nguyên ngữ. Nếu cho rằng chữ La là yếu tố của một địa danh như: La Chử, La Vang, La Hai, La Qua… từ miền Bắc đến miền Trung và riêng tại Bình Thuận cũng có La Gàn, La Bá, La Ngâu, La Dạ, La Ngà… thì chưa hẳn đây là những địa danh có từ tố La thường gặp ở dạng địa danh vùng miền. Ở Phan Rang có con sông tên La Gi cũng gọi là sông Dinh hay sông K’rong Pha (theo Sổ tay địa danh Việt Nam của Đinh Xuân Vịnh - Nxb. ĐHQGHN - 2002) để nghĩ đến nhiều hơn là ngữ âm của người Chăm. Trong “Địa danh học Việt Nam của Pgs.Ts. Lê Trung Hoa, Nxb.KHXH-2011” nói đến nhóm địa danh gốc Chăm có quan hệ về ngữ âm, đó là từ “Lagi” vay mượn ngữ âm “Mưli”(?). Có một số bản đồ được lập dưới thời phong kiến, địa danh La 羅 (lưới bắt chim, thiên la địa võng) Di/夷 viết bằng mã chữ Hán Nôm dịch nghĩa thì từ Di đối với người Tàu xưa ám chỉ những nước nhỏ ở miệt phương đông cũng không có cơ sở nào hợp lý, còn các nghĩa khác (迤 để lại, 移 chuyển dời) lại càng khó hiểu hơn. Nhưng cũng có ý kiến về từ “La” theo nghĩa Hán Việt thì không có chữ nào phù hợp Di/Gi. Điều này trong “Tập bản đồ hàng hải 1841 - đại học Yale” (Mỹ) của Phạm Hoàng Quân- xb. 2016, cũng đề cập đến nhiều địa danh căn cứ vào “An nam đại quốc họa đồ” của giám mục Taberd bằng chữ Hán và dịch ra chữ La tinh (1938) được phiên âm thành tố La từ chữ Hán Nôm như La Gàn/Hàn, thì chữ La cũng theo nghĩa là “lưới đánh chim, vải lưới, giỏ tre…” và thường gặp với một từ có nhiều ngữ nghĩa khác nhau. Có thể coi địa danh La Di với La (ngữ âm người Chăm) là thành tố của Di (chữ Hán), về mặt ngữ âm La kết hợp với ngữ nghĩa Di tưởng chừng vô lý nhưng thực tế có nhiều địa danh đã hình thành từ trường hợp đó.
Liên quan về chính tả địa danh La Di/ La Gi, trong từ nguyên học thường gặp bất nhất trong cách viết d và g (dông gió/giông bão, dấu diếm/giấu giếm, giang tay/ dang tay…) không có gì sai nghĩa, một khi được coi là phù hợp với cảm thức người Việt. Theo phương pháp “lưỡng từ” trong tiếng Việt đối với từ ngữ có âm đầu là d/gi có thể viết d hoặc gi, cách nào cũng đúng. Do đó cách phát âm chữ GI là di, zi… chấp nhận được. Trong đó, đối với phụ âm đầu là d/gi nguyên âm là i/y. Tương tự trong cách viết cũng phù hợp với phát âm y/i nhưng bằng ngữ cảm bản ngữ thì có gì đó không đầy đủ. Một ví dụ khác, cũng do từ chính tả: địa danh Bình Dã (theo nghĩa Hán Việt là đồng bằng) nhưng nay trở thành Bình Giã (Bà Rịa).
Cũng có thể do cách sao chép, lỗi viết (I thành L), phiên âm đưa vào văn bản hành chính từ La nguyên gốc là Ia (nước, sông, suối…) mà người dân tộc Tây nguyên, Chăm đều dùng đứng trước một địa danh (như Ia Dom, Ia Grai (ở Gia Lai, Kontum), Ia Trang (Nha Trang), Ia Talai (Gia Lai)… Trên các bản đồ xưa, như “Bình Thuận toàn đồ” trích trong “Thống quốc duyên cách hải chử” (1838) mang ký hiệu HNV 190 - Thư viện KHXH TP HCM, địa danh La Di ghi theo biểu tra chữ Hán, nghĩa chữ La là lưới đánh chim, giăng bày ra… và Di là nước nhỏ, theo cách gọi người Tàu xưa. Nếu theo nghĩa quốc văn thì không giải nghĩa được gì cả. Cũng có người căn cứ từ “Ragi Ragan”, theo tiếng Chăm có nghĩa “gây trở ngại, làm thiệt hại nên coi đó là địa hình mũi đất đâm ra biển” để rồi cho rằng người Việt biến âm thành Lagi (La Gàn - Tuy Phong cũng vậy). Địa hình mũi La Gàn có thể coi là mũi đất, nhưng phần đất La Gi hoàn toàn lọt thỏm trong vành cong bờ biển mà hai đầu là mũi Khe Gà (huyện Hàm Thuận Nam cũ) và Mũi Bà (Bình Châu - Xuyên Mộc), thì không thể nào phù hợp.
Từ chữ viết “La Gi” đã dẫn đến cách phát âm có khác nhau, đặc biệt với người ở xa đến, kể cả phát thanh viên các đài Phát thanh, truyền hình trung ương đọc địa danh La Gi là “la-ghi”, “la-ji”. Với dân bản xứ hoặc đã sống lâu năm ở đây đã quen đọc La Gi là la-di hoặc la-zi. Cũng có tranh luận vui nếu đọc chữ “gi” mà phải viết thành “ghi” theo đánh vần, vậy thì chẳng lẽ “ngô, ngơ” viết là “nghô, nghơ” hoặc đọc “là gì?” thành “là ghì ?”,… Qua đó, mới thấy từ phiên âm nguyên ngữ sang chữ viết thì chữ La Di/ La Gi là dễ chấp nhận hơn.
Nói về địa danh La Di/ La Gi đã có từ giữa thế kỷ 19, còn làng Hàm Tân chỉ có tên từ phần đất làng Phước Lộc (cửa biển La Di/La Gi) tách ra và trở thành trụ sở của huyện Hàm Tân được thành lập năm 1916, trước đó thuộc tổng Đức Thắng, phủ Hàm Thuận. Từ khi còn huyện Tuy Định và từ 1854 - 1905 là Tuy Lý, địa bàn Hàm Tân/La Gi bây giờ chỉ có các tên làng Phước Lộc, Tân Hải, Tân Nguyên, Tân Quý… (theo Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - Bình Thuận của Nguyễn Đình Đầu). Nói đến địa danh Hàm Tân/ 咸 新 cũng tương tự như La Gi, nhiều bản đồ xưa cũ viết chữ Hán Nôm theo cách suy luận mà chuyển thành nghĩa khác. Huyện Hàm Tân ngày xưa thuộc phủ Hàm Thuận, nguyên là vùng đất ruộng có đông cư dân Chăm sinh sống. Từ “Hàm” (咸/含) nguyên gốc của người Chăm là “Hamu” tức ruộng, lân cận có Hamu Akăm (Ma Lâm), Hamu Lithit (Phan Thiết) và Hamu được Việt hóa, phát âm thành Hàm với các làng xã Hàm Đức, Hàm Phú, Hàm Trí, Hàm Chính… Theo đó, địa danh Hàm Tân từ chữ Hamu (Hàm) của Chăm đã Việt hóa và kết hợp với từ Hán - Việt là Tân. Nếu căn cứ ngữ nghĩa của từ Hàm theo Hán - Việt thì không có quan hệ gì với chữ Tân là mới (hoặc Bến sông, Khách…). Phải hiểu rằng, đất Bình Thuận vốn là bản địa của người Chăm cho nên những địa danh trên bản đồ địa lý, văn bản hành chính dưới thời kỳ phong kiến, Pháp thuộc được viết bằng chữ Hán hay quốc ngữ theo ngữ âm của người Chăm mà có.
Bàn về địa danh của một vùng đất cách đây trên cả trăm năm quả là phức tạp, đòi hỏi sự hiểu biết thấu đáo thuộc phạm vi mang tính khoa học độc lập này. Nhưng với tình cảm của những người đang sống và thừa hưởng các giá trị bản sắc văn hóa ở đây sẽ không khỏi băn khoăn, tự hỏi về lai lịch, nguồn gốc hình thành của địa phương khi vẫn còn nhiều điều chưa được khẳng định.
Nguồn Lâm Đồng: https://baolamdong.vn/ia-danh-la-gi-de-nham-lan-trong-cach-doc-452857.html






![[Ảnh] Tháng 7 lên biên giới Tuyên Quang thăm lại chiến trường xưa](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_07_11_14_55595531/d449097f5b34b26aeb25.jpg)



![[Ảnh] Đội Bồ Đào Nha lên ngôi Quán quân Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng 2026](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_07_11_14_55596600/e3352031727a9b24c26b.jpg)

