Hương bếp sum vầy

Những ngày cuối năm, nghe tiếng lửa reo, tiếng tay người thoăn thoắt nơi gian bếp là biết mùa mới đang sang. Ở đó, giai điệu giao mùa được dệt nên từ khói lửa, mùi bánh mứt và niềm vui sum vầy.

Bà Nguyễn Thị Vui (trái) gắn bó hơn nửa thế kỷ với nghề bánh thuẫn. Ảnh: KHA MIÊN

Bà Nguyễn Thị Vui (trái) gắn bó hơn nửa thế kỷ với nghề bánh thuẫn. Ảnh: KHA MIÊN

Những người giữ hương Tết

Từ tinh mơ, trong khoảng sân nhỏ ở con hẻm 264 đường Trần Cao Vân (phường Xuân Hà), bà Nguyễn Thị Vui (SN 1957) cùng em gái, bà Nguyễn Thị Thu Hương (SN 1964), đã nhóm lửa, thoăn thoắt đổ bột vào hai khuôn gang.

Để có được những cái bánh thuẫn vàng ruộm, người thợ phải khéo léo từ khâu trộn bột, đánh bột đến ướm chừng than trên, than dưới… để bánh chín đều, nở bung như đóa mai, tượng trưng cho sự sinh sôi, nẩy nở và ước mong một năm sung túc, sum vầy.

Người phụ nữ gần bảy mươi tuổi, hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghề, vừa đổ bánh vừa kể chuyện xưa. Giọng bà Vui chậm rãi, lẫn trong làn khói mỏng: “Hồi nớ nhà nghèo, cô phải bươn chải sớm. Tết đến, nhà mô cũng đổ bánh thuẫn. Cô nghĩ bánh ngon rứa mà răng chỉ tới Tết mới được ăn, nên lân la học mỗi nhà một chút rồi mày mò làm thử”.

Ban đầu, bà Vui chỉ đổ vài mẻ nhỏ, bày bán trên chiếc mâm trước hẻm. Bánh ngon, bạn bè mang ra ga tàu bán giúp. Tiếng lành lan xa, người mua ngày một đông, bếp đỏ lửa từ sáng đến chiều. Có thời điểm, khi bánh thuẫn chưa bị chia sẻ bởi nhiều thức quà khác, bà nhóm lò từ hai giờ sáng.

Nay nhịp làm chậm hơn, ngày thường bắt đầu từ năm giờ, nhưng giáp Tết thì bếp lại rộn ràng, từ 2 lên 6 đến 8 bếp. “Đón xuân, răng thì răng cũng phải có bánh thuẫn”, bà nói. Ngày trước, năm chị em gái cùng phụ, giờ người già, người đi xa, chỉ còn hai chị em thay nhau giữ lửa.

Theo nghề từ năm mười tám tuổi, thanh xuân của bà trôi qua trong mùi bánh chín, trong những buổi sớm ngồi bên bếp than. Từ chiếc mâm bánh kê tạm ven đường đến tủ kính tươm tất. từ công thức giản dị với trứng, đường, bột, chanh đến những mẻ bánh cầu kỳ hơn với cam, bơ Pháp… là quãng đời chịu thương, chịu khó.

Khi tuổi cao, sức khỏe không còn như trước, bà Vui dần trao lại bếp bánh cho con gái là chị Nguyễn Thị Thủy Tiên (SN 1990). Chị Tiên kể, ngày còn đi học, chị chỉ phụ mẹ vào dịp hè. Đến khi đứng bếp chính, chị phải mất hơn hai tháng học việc mới quen tay. “Hồi mới làm, bánh hỏng nhiều lắm”, chị cười.

Cách đó không xa, bà Nguyễn Thị Kim Dung (1967, phường Xuân Hà) lặng lẽ dõi theo con gái, chị Nguyễn Thị Kim Oanh (SN 1990), đang tất bật đổ bánh. Sau cơn tai biến, bà không còn đủ sức đứng lò, nhưng hễ khỏe là lại ra ngồi cạnh bếp.

Nghề bánh theo gia đình bà từ Quảng Bình vào Đà Nẵng, đi qua bốn thế hệ, giờ nằm trong tay lớp trẻ. Nhìn con làm, thỉnh thoảng bà nhắc khẽ một câu, ánh mắt không giấu được nỗi lưu luyến.

Chị Oanh học nghề từ năm lớp 7. Tan học là đứng quan sát mẹ, làm theo từng công đoạn. Từ người phụ việc, chị dần trở thành người đứng bếp chính. Chị kể, ngày thường, công việc bắt đầu từ năm, sáu giờ sáng; gần Tết, có hôm ba, bốn giờ đã nhóm lửa. Những hôm cao điểm, cả nhà phải làm xuyên đêm để kịp đơn hàng.

Bánh ngon không chỉ nhờ bột, trứng, đường mà còn đòi hỏi sự kiên nhẫn và kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm. Giá bánh dao động theo nguyên liệu, từ khoảng 130.000 đồng/kg đến 180.000 - 250.000 đồng/kg đối với loại sử dụng bơ Pháp, trứng gà ta.

Bánh được chia thành hai loại: bánh mềm dùng trong ngày và bánh sấy khô để mang đi xa, phục vụ nhu cầu biếu tặng, gửi cho người thân ở xa. Có đơn hàng chỉ vài ký, cũng có lúc hơn chục ký, gói ghém trong đó là nỗi nhớ quê của người tha hương.

Những ngày tiết trời se lạnh, lượng khách ghé mua tăng lên. Bếp từ trong nhà tràn ra vỉa hè, khói than quyện mùi bánh, xôn xao góc đường Trần Cao Vân. Giữa phố xá đổi thay, đó là niềm vui lặng lẽ của những người còn giữ được mùi hương cũ cho mùa Tết mới.

Chắt chiu ký ức

Dường như bao nhiêu món ngon đều có hẹn với mùa xuân. Cũng là gạo nếp trong chiếc lá dong nhưng bánh chưng của ngày Tết lại mang hương vị khác biệt. Hẳn đó là hương xuân và vị đầm ấm quyện hòa trong câu chuyện rôm rả buổi sum vầy, thứ mà chẳng thể tìm thấy trong tất bật ngày thường.

Như gia đình chị Đặng Thị Sơn (giáo viên Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, phường Hòa Khánh), mùi lá dong, nếp mới đã trở thành tín hiệu quen thuộc báo mùa đoàn viên. Cách đây khoảng 5 năm, từ ký ức tuổi thơ bên ông ngoại, chị rủ cả nhà cùng quây quần gói bánh.

Ước mong giản dị của chị là Tết trong ký ức của các con êm đềm và ấm áp như chị từng có. Và mỗi lần gói bánh, chị như được trở về với hương Tết quê nhà, với những ngày thơ bé bình yên bên ba mẹ năm nào.

Bếp lửa đêm cuối năm đỏ hồng, nồi bánh sôi lục bục trong tiết trời se lạnh. Người lớn lo nếp, đậu, thịt; con cháu rửa lá, lau lá, cắt lá rồi tập tành gói bánh. Những cái bánh còn méo, chưa thật vuông vắn trở thành cái cớ để cả nhà cười với nhau nhiều hơn.

Giữa sắc xanh của lá dong, sắc vàng của đậu, sắc trắng của nếp, lòng người tự nhiên cơi lên niềm rộn ràng khó gọi tên. Tết của nhiều gia đình lại bắt đầu bằng mùi gừng cay nhẹ len trong gió, mùi dừa ngọt dịu bám vào đầu ngón tay, mùi đường thắng sánh vàng âm ấm bên bếp lửa.

Với gia đình Trần Bảo Uyên (SN 2004, phường Thanh Khê), chừng ấy hương vị đã đủ gọi mùa xuân về trước hiên nhà. Sáu năm nay, cứ chạm tháng Chạp, cả nhà lại quây quần bên gian bếp nhỏ, cùng nhau làm mứt Tết để dâng bàn thờ, bày mâm bánh kẹo và gửi chút ngọt lành sang nhà người thân, hàng xóm.

Uyên cho biết, làm mứt khá vất vả. Từ chọn dừa, bào sợi, ngâm nước cho đến sên mứt, mỗi công đoạn đều cần sự kiên nhẫn. Nhưng chính sự nhọc nhằn ấy lại chắt chiu thành ký ức. Cả nhà ngồi lại, tính toán xem cần làm bao nhiêu, để lại trong nhà bao nhiêu, biếu ai bao nhiêu.

Những câu chuyện vụn vặt theo đó mà đầy lên, len lỏi trong tiếng lửa reo khe khẽ. Uyên bảo, điều em thích nhất là được ngồi bào dừa cùng mẹ, vừa làm vừa “ăn ké” những sợi dừa vụn, vừa nghe tiếng cười rôm rả của cả nhà. “Mứt dừa nhà làm không chỉ hợp vị mà còn thơm béo hơn, nhờ mẹ khéo léo thêm vào chút sữa”, Uyên khoe.

Với bà Phan Thúy Diễm (SN 1974, phường Cẩm Phô), Tết không chỉ là dịp đoàn viên mà còn là khoảng thời gian để lòng người mở ra với những sẻ chia âm thầm. Suốt 9 mùa xuân qua, năm nào bà cũng tất bật làm kiệu, tỉ mẩn từ củ cải, củ kiệu, chút đường, chút giấm, để gửi tặng bệnh nhân đang điều trị ở các bệnh viện, những cụ già neo đơn.

Những hũ kiệu nhỏ theo bà đi qua nhiều nơi, mang theo vị chua ngọt dịu dàng và cả tấm lòng ấm áp. “Không thể mang Tết đến đủ đầy, tôi chỉ mong mọi người cảm nhận được rằng mình không đơn độc”, bà Diễm nói.

Tôi thường hay đùa với cả nhà rằng: cúng giao thừa xong là hết Tết rồi. Với tôi, Tết là những ngày tất bật dọn dẹp cùng ba, là những buổi xôn xao dạo chợ với mẹ, là hòa cùng không khí chộn rộn chuẩn bị món này, thức kia của dì…

Như những ngày này, mùi kiệu hăng hắc khắp nhà. Nhà buôn bán, cận Tết bận rộn hơn hẳn ngày thường nhưng đôi tay già nua ngoài bảy mươi vẫn tranh thủ từng chút thời gian để tỉ mẩn nhặt rễ và lá kiệu. Phòng ngủ của tôi ở tầng trên, sáng sớm chưa mở mắt đã nghe tiếng lạo xạo rải kiệu đón nắng của dì.

Rồi ngày vài bận, dì lên lên xuống xuống, ngó nghiêng con nắng mà lật trở kiệu cho se đều hai mặt. Kiệu được vài nắng, dì lại đem cà rốt, ớt, đu đủ được cắt lát mỏng ra phơi. Kiệu chớm heo héo lại tiếp tục cắt đầu, cắt đuôi… Mà đó chỉ mới là công đoạn sơ chế.

Để có được chén kiệu giòn tươi trên mâm cơm ngày Tết, dì còn phải loay hoay pha chế nước mắm, đường, giấm… rưới vào hũ thủy tinh đã xếp từng lớp kiệu trắng nõn xen lẫn sắc đỏ ươm của cà rốt, ớt đầy đẹp mắt.

Ngó dì lụi hụi with mớ kiệu cả tuần, tôi đùa: “Của một đồng, công một nén là đây chứ mô”. Dì cười hiền: “Tết phải có chén kiệu ăn kèm để đỡ ngấy. Năm mô nhà mình chẳng hết mấy hũ. Mất công xí mà ngon, hợp vị. Nhớ ngày xưa làm kiệu còn công phu hơn nữa, phải ngâm nước hòa tro bếp cho bớt vị hăng…”.

Trong mùi kiệu cay nồng, tôi ngồi nghe dì kể về những ngày xưa rất thương - những ngày mà chái bếp còn lấm lem màu than, những ngày mà ngoại chưa mất, những ngày mà bọn trẻ chưa tứ xứ như chừ…

Tết có nhiều âm sắc rộn ràng, nhưng hương vị vẫn là giai điệu riêng nhất. Giai điệu ấy khởi lên từ bếp lửa, theo mùi bánh mứt lan đi, rồi lặng lẽ ở lại trong ký ức mỗi người khi mùa xuân vừa chạm ngõ.

KHA MIÊN

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/huong-bep-sum-vay-3323557.html