Cánh đồng xa
Ấy là cánh đồng xa nhất của làng tôi, nơi ba xã gặp nhau, ngăn cách bởi hai nhánh kênh đào. Ở đó có những mùa lúa thấm đẫm bao giọt mồ hôi của người nông dân, nhưng cũng có cả những đêm trăng thanh đầy tiếng hát và những buổi trưa hè lũ trẻ chúng tôi trốn ngủ, rủ nhau đi mò ốc, bắt cua.
Làng tôi ngày ấy bốn phía đều là cánh đồng. Cánh đồng xa nhất cách chân tre làng chừng hơn hai cây số, dân làng tôi quen gọi là đồng dưới. Vì là vùng trũng nhất nên ruộng ở đây quanh năm lút bùn ngang gióng chân người. Con đường ra đồng bằng đất sét, cứ sau mỗi mùa mưa lại được đắp bồi thêm, những chỗ cỏ gà chưa kịp phủ xanh, mưa xuống là trơn như đổ mỡ.

Ảnh minh họa.
Khó khăn là thế nhưng người quê tôi đã quen với nhịp điệu của đồng đất. Mưa thì chờ nước rút, nắng lên lại tranh thủ xuống đồng; vụ này khó thì tính cách làm cho vụ sau. Đồng trũng, đất kém phì nhiêu nên canh tác chẳng dễ dàng. Cấy lúa, gặt hái, người nông dân đều phải lội sâu trong bùn. Để thích ứng với đồng đất ấy, bà con chủ yếu cấy giống Bao Thai Hồng. Giống lúa này không cho năng suất cao như nhiều giống khác, nhưng không kén đất, dễ thích nghi với những chân ruộng trũng. Bù lại, gạo Bao Thai Hồng rất ngon. Mỗi mùa thu hoạch, những mẻ thóc đầu tiên phơi khô, đem xay giã rồi nấu nồi cơm mới, hương thơm cứ thế lan khắp nhà.
Ngày ấy, làm ruộng trên cánh đồng này nhiều khi chẳng khác nào đánh cược với trời. Mùa mưa, nước từ những cánh đồng xung quanh dồn về, những thửa ruộng thấp chẳng mấy chốc trắng nước. Tôi vẫn nhớ những vụ lúa gặp mưa lớn, nước dồn về ruộng khi những bông lúa còn đang ngậm sữa, người nông dân đứng ngóng trời, thấp thỏm đếm từng ngày lúa có thể gặt.
Có vụ, lúa mới chín được bảy, tám phần, bà con đã phải tranh thủ thu hoạch trước khi nước dâng cao. Những chiếc thuyền nan nhỏ lướt giữa cánh đồng mênh mang nước, nông dân cúi xuống, thoăn thoắt tay liềm. Tiếng liềm cứa vào thân lúa xoàn xoạt trong mưa. Lúa cắt đến đâu được chất lên thuyền đến đấy để nhanh chóng kéo lên bờ. Quần áo ướt sũng, chân lấm bùn, gương mặt sạm đi vì nắng mưa, ai nấy đều cố thu vén lấy chút thành quả sau bao tháng ngày chăm bẵm. Có những năm nước lớn, sau một đêm mưa bão, cả cánh đồng lúa còn đương ngậm sữa chìm trong biển nước. Bà con đứng nhìn nhau, nước mắt lưng tròng bởi tiếc công, tiếc của.
Những khi thời tiết thuận hòa, trên cánh đồng vang tiếng nói, tiếng cười, thi thoảng xen vài tiếng hát trong lúc giải lao của những cô thôn nữ đi làm cỏ lúa. Những đêm mùa hè, trăng sáng vằng vặc, trải vệt sáng dịu dàng lên những thửa ruộng. Thanh niên nam nữ trong làng tranh thủ gặt lúa đêm để phòng mưa bão. Công việc vẫn nặng nhọc, nhưng giữa mênh mang đồng ruộng, tiếng nói cười và những câu hát đối đáp khiến đêm dài như ngắn bớt. Đã có không ít trai gái làng tôi nên duyên với người làng khác qua những câu hát giao duyên như thế.
Nhưng cánh đồng xa không chỉ lưu giữ những mùa vụ nhọc nhằn. Chính nơi trũng thấp ấy lại hào phóng ban tặng cho người quê những thức quà của đồng đất. Sau mỗi ngày đi cấy, đi gặt, các bà, các mẹ thường tranh thủ mò cua, bắt cá. Dăm ba con cá trê, cá diếc, mớ cua đồng béo ngậy mang về cũng đủ làm bữa cơm gia đình thêm rôm rả. Tôi còn nhớ như in những năm tháng chừng bảy đến mười tuổi, tôi thích nhất là theo các anh chị lớn xuống đồng dưới mò ốc, bắt cua, xúc tép. Quanh năm có nước nên nơi ấy nhiều cua ốc nhất. Lũ trẻ chúng tôi kéo nhau xuống đồng, mang theo những chiếc xà cạp, một đầu buộc chặt, đầu kia rút dây để đựng cua cá, trai ốc vừa kiếm được.
Mùa hè, mẹ không cho chúng tôi ra đồng buổi trưa vì sợ cảm nắng. Nhưng hễ rình lúc cả nhà ngủ trưa, tôi lại lén dậy, vẫn nguyên quần đùi, áo ba lỗ, cùng đám bạn chạy một mạch xuống cánh đồng. Hầu như chẳng đứa nào trong chúng tôi mang mũ, nón. Mà có mang thì xuống đến nơi cũng chẳng chịu đội. Sẵn những đám sen mọc ở con kênh, mỗi đứa bẻ một chiếc lá, gấp khom lại như cái mũ rồi lấy que bạch đàn gài vào. Mũ lá sen vừa mát, vừa thơm. Những trưa hè cứ thế trôi đi trong tiếng nói, tiếng cười và niềm háo hức của con trẻ chỉ mong tìm được thật nhiều cua ốc.
Có những hôm đang mải mê lần từng gốc lúa tìm những con ốc dạ, chợt nghe tiếng mẹ gọi văng vẳng từ rìa làng, tôi lấm lem bùn đất ba chân bốn cẳng chạy về, vừa chạy vừa nơm nớp lo sợ vì kiểu gì cũng phải chịu đòn. Sợ là thế nhưng hôm sau tôi vẫn lại tìm mọi cách để trốn xuống đồng.
Ký ức của tôi những ngày thơ bé còn có một “cánh đồng xa” khác nữa. Bố tôi khi ấy công tác xa nhà, mãi tận thị xã tỉnh lỵ, chỉ về nhà vào dịp cuối tuần. Trong suy nghĩ của trẻ thơ, bố đi làm xa tức là ở một cánh đồng nào đó rất xa, xa hơn cánh đồng xa nhất của làng. Mỗi chiều cuối tuần, tôi ra đứng ở chân tre cuối làng, ngóng về phía cuối con đường đồng. Khi bóng chiếc xe máy "cá xanh" hiện ra giữa hai hàng bạch đàn là tôi nhảy cẫng lên vì biết bố đã về.
Quê hương tôi giờ đổi mới hoàn toàn, cánh đồng trũng năm nào giờ đã mang một diện mạo khác. Những thửa ruộng từng ngập bùn, những con đường đất mà tuổi thơ tôi từng đi qua, nay đã trở thành khu công nghiệp hiện đại. Nhà máy mọc lên, đường sá rộng mở. Người lao động từ nhiều miền quê tìm về, những dãy nhà trọ nối nhau, tiếng nói đủ vùng miền khiến vùng đất vốn yên ắng ngày nào trở nên nhộn nhịp.
Một lần, thong thả trở về quê, đi ngang qua dãy nhà trọ ven làng, tôi tình cờ nghe tiếng một cô công nhân trẻ đang nói chuyện qua điện thoại: “Ở nhà với ông bà phải ngoan con nhé. Mẹ phải đi làm lấy tiền cho con đi học. Mai này mẹ về sẽ mua quà cho con...”. Tôi đứng lại một lúc lâu, những ký ức về cánh đồng xa lại hiện về, vẫn vẹn nguyên và đong đầy thương nhớ.
Nguồn Bắc Ninh: https://baobacninhtv.vn/canh-dong-xa-postid454135.bbg
