Xử thế nào vụ chồng lấy cắp phôi của vợ tại BV Bưu Điện giúp bồ mang thai?

Vụ việc người chồng lấy cắp phôi của vợ tại Bệnh viện Bưu Điện (Hà Nội) giúp bồ mang thai đang khiến dư luận đặc biệt quan tâm và đặt câu hỏi về xử lý vụ việc trên thế nào theo quy định của pháp luật?

Liên quan vụ việc hi hữu chồng lấy cắp phôi của vợ tại Bệnh viện Bưu Điện (Hà Nội) giúp bồ mang thai dư luận quan tâm, theo quy định của pháp luật, vụ việc sẽ được xử lý như thế nào?

Đại diện Vụ Pháp chế, Bộ Y tế cho rằng, căn cứ khoản 2 điều 33 nghị định 176/2013 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực y tế, người chồng và người được chuyển phôi trong vụ việc hi hữu này sẽ bị phạt 30 - 40 triệu đồng (sử dụng phôi còn dư mà chưa được sự đồng ý của cả hai vợ chồng). Ngoài ra, cơ sở y tế cũng sẽ bị xử phạt tùy mức độ.

Trao đổi với PV Kiến Thức, Luật sư Đặng Văn Cường, Đoàn Luật sư TP Hà Nội nhận định, trộm cắp tài sản là hành vi để xảy ra thường xuyên trong xã hội, trộm tài sản của vợ mang cho bồ cũng không hiếm nhưng việc chồng trộm phôi thai của vợ mang cho bồ là chuyện xưa nay hiếm.

Về nguyên tắc thì mọi hành vi lén lút nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác đều là hành vi vi phạm pháp luật, đều bị xử lý bằng các chế tài hành chính hoặc hình sự.

Bệnh viện Bưu Điện. Ảnh: PLO

Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật thì phôi thai không phải là tài sản. Phôi thai là thứ không thể mua bán, không thể định giá được bằng tiền, không có đầy đủ các thuộc tính của tài sản nên không được coi là tài sản theo quy định của pháp luật.

Luật sư Đặng Văn Cường cho rằng, hành vi của người chồng và người phụ nữ “lạ mặt” (được cho là “bồ”) trong trường hợp này cũng không phải là lén lút mà là gian dối.

“Người chồng và người phụ nữ kia đã dùng những thông tin gian dối, thủ đoạn gian dối để qua mặt cơ quan chức năng. Bởi vậy với hành vi lừa dối để chiếm đoạt phôi thai vợ của người chồng và người phụ nữ này không đủ yếu tố để cấu thành tội trộm cắp tài sản cũng như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật”, Luật sư Đặng Văn Cường cho biết.

Tuy nhiên, theo thông tin từ phía bệnh viện Bưu điện thì người chồng đã sử dụng giấy ủy quyền giả, giả chữ ký của vợ mình để thực hiện thủ đoạn qua mặt các cán bộ, bác sĩ của bệnh viện này.

Bởi vậy, cần làm rõ giấy ủy quyền đó có đóng dấu, chữ ký của cơ quan chức năng hay không (phòng công chứng hoặc ủy ban nhân dân cấp xã phường).

Trong trường hợp người đàn ông này đã làm giả con dấu, giả chữ ký hoặc tẩy sửa văn bản của Cơ quan chức năng để lừa dối cán bộ, bác sĩ bệnh viện thì có thể xem xét xử lý người đàn ông và người phụ nữ này về tội làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan tổ chức theo quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Cụ thể, Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức quy định:

Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 2 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Làm từ 02 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác; d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng; đ) Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; e) Tái phạm nguy hiểm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm: Làm 6 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên; Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Luật sư Đặng Văn Cường cho rằng, trong trường hợp này, cũng cần xem xét trách nhiệm của bệnh viện và cán bộ, bác sĩ có liên quan đến việc thực hiện thủ tục này. Trong trường hợp có sai sót về thủ tục, không làm hết trách nhiệm để cho người chồng và người phụ nữ lạ mặt kia qua mặt dẫn đến hậu quả dở khóc, dở cười, gây bức xúc cho người vợ và làm giảm sút uy tín của bệnh viện.

Bởi vậy, trong trường hợp này, người vợ hoàn toàn có quyền yêu cầu bệnh viện phải xin lỗi và bồi thường những thiệt hại tổn thất về tinh thần đã gây ra đối với người vợ trong tình huống này.

Còn đối với người chồng và người phụ nữ là mặt kia thì người vợ hoàn toàn có quyền làm đơn trình báo tới cơ quan công an để được xem xét làm rõ hành vi giả mạo giấy tờ, tài liệu để chiếm đoạt phôi thai của người phụ nữ này.

Trong quá trình xác minh tin báo, nếu cơ quan công an có căn cứ cho thấy những người này đã làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan tổ chức thì có thể xem xét xử lý hình sự theo quy định pháp luật.

Hải Ninh