Vốn Nhật vào Đông Nam Á: Có bền vững?

Không phải công ty nào khai trương cũng thu hút sự quan tâm của Thủ tướng một quốc gia, nhưng trung tâm mua sắm Aeon Mall tại Phnom Penh lại có được điều đó. Bởi lẽ, đây là trung tâm mua sắm lớn nhất Campuchia có cả sân trượt băng, trường quay truyền hình và khu chơi bowling. Và quan trọng hơn, đối với ông Hun Sen, Thủ tướng đương nhiệm của Campuchia, đó là biểu tượng của dòng vốn đầu tư từ Nhật vào nước này.

Đầu tư trực tiếp của Nhật vào Đông Nam Á đang tăng mạnh

Thực vậy, chính phủ các nước Đông Nam Á đang ra sức thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp Nhật và dòng vốn Nhật cũng đang di chuyển mạnh về hướng này. Bằng chứng là đầu tư Nhật vào Đông Nam Á đã tăng gấp 2 lần lên mức 2.300 tỉ yen (khoảng 24 tỉ USD) vào năm ngoái. Một phần là rót vào các thương vụ mua bán - sáp nhập do các doanh nghiệp Nhật thực hiện. Tập đoàn viễn thông Nhật Softbank, chẳng hạn, vừa đầu tư 100 triệu USD vào Tokopedia, một công ty thương mại điện tử Indonesia. Hay Tập đoàn Toshiba đã cam kết đầu tư 1 tỉ USD vào khu vực Đông Nam Á trong vòng 5 năm. Trong khi đó, cách đây 1 năm, Mitsubishi UFJ Financial Group, ngân hàng lớn nhất nước Nhật, đã bỏ ra 536 tỉ yen để mua 72% cổ phần trong Bank of Ayudhya của Thái Lan.

Trong suốt làn sóng đầu tư đầu tiên của Nhật vào Đông Nam Á (vào thập niên 1980 và 1990), dòng tiền Nhật rót vào Thái Lan, Malaysia và Singapore là nhằm xây dựng ngành hàng điện tử và ôtô của họ. Tuy nhiên, phần lớn dòng vốn này đã chững lại sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-1998. Khi đó, các doanh nghiệp Nhật bắt đầu chuyển hướng tập trung vào thị trường Trung Quốc, nơi có lực lượng lao động giá rẻ và dồi dào.

Nhưng nay chi phí lao động tại Trung Quốc đang tăng lên cùng với mối bất hòa về chính trị giữa Trung Quốc và Nhật, khu vực Đông Nam Á giờ lại hấp dẫn một lần nữa. Đầu tư Nhật vào Trung Quốc đã giảm gần 2/5 vào năm ngoái trong khi vốn chảy vào Đông Nam Á như tại Campuchia lại tăng mạnh. Mặc dù Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật nhưng doanh nghiệp Nhật đã đầu tư gấp hơn 3 lần tại Đông Nam Á vào năm ngoái. Đây là điều đáng mừng cho khu vực Đông Nam Á, nhất là trong bối cảnh chính phủ các nước này đang cần dòng vốn ngoại để hỗ trợ cho quá trình cải cách và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, một số chuyên gia kinh tế cho rằng làn sóng đầu tư Nhật vào Đông Nam Á lần này có thể sẽ không bền vững, vì một số lý do trong đó có một lý do xuất phát từ chính sách tiền tệ của Chính phủ Nhật. Năm 2013, Ngân hàng Trung ương Nhật (BoJ) bắt đầu mua vào trái phiếu thông qua chương trình nới lỏng định lượng, một nỗ lực của Thủ tướng Shinzo Abe nhằm đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng giảm phát kéo dài và vực dậy tăng trưởng. Việc BoJ mua vào trái phiếu đã khiến cho các ngân hàng Nhật rủng rỉnh tiền: các ngân hàng Nhật giữ xấp xỉ 15% tài sản dưới dạng dự trữ dư thừa tại BoJ, chấp nhận hưởng một mức lãi không đáng kể (dự trữ dư thừa, viết tắt là ER, là những khoản tiền mặt dôi ra cao hơn dự trữ bắt buộc do các ngân hàng để lại vì lý do không cho vay được hết hoặc không có đủ các điểm đầu tư an toàn).

Vì nhu cầu vay vốn ở thị trường Nhật vẫn còn yếu ớt, trong khi lại đang rủng rỉnh tiền nên các ngân hàng nước này đã đẩy mạnh cho vay ở nước ngoài. Kết quả là cho vay của các ngân hàng Nhật đối với các nước châu Á khác (kể cả Trung Quốc) đã tăng rất nhanh kể từ cuối năm 2012, đứng ở mức 465 tỉ USD vào tháng 6.2014.

Một số chuyên gia kinh tế lo ngại, nếu chính sách tiền tệ của Nhật thay đổi thì dòng tiền chảy vào khu vực Đông Nam Á có thể sẽ bị chững lại. Hơn ai hết, khi thực hiện gói nới lỏng định lượng, Chính phủ Nhật muốn doanh nghiệp nội địa đi vay để đầu tư nhiều hơn ở thị trường trong nước, từ đó tạo ra việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Gói nới lỏng định lượng cũng đã làm suy yếu đồng yen, khiến việc đầu tư trong nước có vẻ hấp dẫn hơn. Thế nhưng, dân số già nhanh chóng của Nhật đồng nghĩa với việc thị trường nội địa đang co cụm lại, khiến doanh nghiệp không mấy mặn mà với việc xây dựng nhà máy mới ở trong nước.

Đó là lý do không ít chuyên gia cho rằng doanh nghiệp Nhật sẽ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm cơ hội tăng trưởng cao hơn và điểm đến lý tưởng hiện nay là Đông Nam Á.

Theo Robert Feldman, chuyên gia kinh tế trưởng về Nhật tại ngân hàng đầu tư Morgan Stanley, so với trước đây, các doanh nghiệp Nhật hiện nay quan tâm nhiều hơn đến vấn đề lợi nhuận nhờ những cải thiện trong quản trị doanh nghiệp. Ông cho rằng điều đó thúc giục họ tìm kiếm các triển vọng tăng trưởng sáng sủa hơn ở thị trường nước ngoài.

Với việc ngày càng nhiều hoạt động sản xuất được chuyển ra nước ngoài, xuất khẩu của Nhật cũng bị ảnh hưởng. Deutsche Bank ước tính đầu tư ra nước ngoài đã khiến cán cân thương mại của Nhật giảm tới 16.000 tỉ yen trong năm 2012. Con số này cao hơn cả mức thâm hụt thương mại trong năm đó (7.000 tỉ yen) của Nhật.

Rõ ràng, lợi nhuận từ nước ngoài vẫn không đủ để bù đắp vào thiệt hại gây ra cho tài khoản vãng lai của Nhật. Khi các cuộc chinh chiến đầu tư ở nước ngoài càng tăng tốc, tình trạng thâm hụt thương mại sẽ càng trở nên thường xuyên hơn, khiến hệ thống tài chính của Nhật càng dễ bị tổn thương.

Theo ông Martin Schulz, chuyên gia kinh tế tại Viện Nghiên cứu Fujitsu ở Tokyo, một rủi ro lớn là Nhật có thể trở thành một nền kinh tế “sống nhờ vào lợi tức”. Theo kịch bản này, các doanh nghiệp Nhật không thực hiện các cuộc đầu tư ở Nhật, vốn là việc cần thiết để tạo ra mức tăng trưởng về lương trên diện rộng. Thay vào đó, họ tập trung vào các cuộc chinh chiến ở nước ngoài. Điều đó sẽ khiến cho nền kinh tế Nhật sống nhờ vào các khoản tiền lợi tức thu được từ các tài sản của nó ở nước ngoài, hơn là “hái quả” từ các hoạt động kinh tế nội địa.

Viễn cảnh đó dường như không khiến các doanh nghiệp Nhật e ngại. Ngay bên ngoài thủ đô Phnom Penh, một khu công nghiệp mới đã và đang được xây dựng để thu hút các nhà sản xuất Nhật như Minibea, công ty chuyên sản xuất các linh kiện chính xác và Ajinomoto, chuyên sản xuất gia vị thực phẩm. Hiện tại, khu công nghiệp này đang được phát triển ở giai đoạn 3, ông Hiroshi Uematsu, người đang giám sát dự án, cho biết

(Theo The Economist)