Vì sao người Việt ngại tham quan bảo tàng, di tích lịch sử văn hóa?

VH- Tôi có hơn 2 tháng học lớp cán bộ quản lý giáo dục ở thành phố Hồ Chí Minh. Những ngày nghỉ cuối tuần, tôi thường có kế hoạch đi tham quan các bảo tàng, di tích lịch sử văn hóa của thành phố này để tăng thêm vốn hiểu biết về văn hóa, lịch sử của mình. Mỗi lần đi, tôi thường rủ bạn bè nhưng họ đều từ chối.

Đơn giản vì họ cho rằng các di tích, bảo tàng không có gì hấp dẫn. Một lần, tôi đi thăm Địa đạo Củ Chi.

Cùng đi với tôi vào xem mô hình Làng kháng chiến còn có một tốp sinh viên khoảng 20 nam, nữ học năm thứ 3 của Trường đại học Tài chính – marketing thành phố Hồ Chí Minh. Thật vất vả cho anh hướng dẫn viên, vì liên tục phải mời gọi các bạn sinh viên tập trung, lắng nghe. Tôi có cảm nhận tốp sinh viên này đến đây không phải để xem, để nghe về Địa đạo mà để nhìn nhau, tâm sự riêng tư và mải mê chụp ảnh lẫn nhau. Đây cũng là cách “tham quan” thường hay gặp ở nhiều bạn trẻ của chúng ta.

Năm ngoái, ra Thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam), đến thăm Chứng tích Sơn Mỹ (Quảng Ngãi), tôi bắt gặp hai cảnh tượng tương phản, những bạn trẻ của ta đến nhìn loáng thoáng, sơ sơ, rồi túm tụm ăn uống, trong khi các em học sinh lớp 7, lớp 8 của đất nước Hàn Quốc đến đây đang mải miết đo đạc, ghi chép lại cẩn thận, chi tiết từng hoa văn, kích cỡ các trụ cột của di sản được thế giới công nhận…

Tôi thấy cái hay của phần đa người nước ngoài đi du lịch trong và ngoài nước họ thường hay lui tới các di tích lịch sử, văn hóa, các công trình nghệ thuật để tìm hiểu, khám phá. Còn phần nhiều người Việt Nam ta hiện vẫn chưa có thói quen, sở thích này.

Điều đó lý giải, trả lời cho câu hỏi, vì sao nhiều người Việt lại ít có những nhận thức hiểu biết cụ thể, sâu sắc về các giá trị văn hóa, lịch sử của dân tộc, đất nước mình qua các bảo tàng, di tích lịch sử văn hóa vô cùng trực quan sống động kia.

Đời sống kinh tế của đất nước, của nhân dân đã dần được cải thiện, trình độ dân trí đã được nâng lên nhưng đến bao giờ nhiều người, nhiều bạn trẻ của chúng ta hình thành được thói quen, sở thích, niềm đam mê học hỏi, nhận thức một cách nghiêm túc, đầy đủ về các giá trị văn hóa, lịch sử của dân tộc, cha ông mình đã dày công gầy dựng, giữ gìn? Bao giờ sự hưởng thụ đời sống tinh thần, văn hóa ngang bằng với đời sống vật chất, kinh tế? Vấn đề ở đây có hai mặt.

Thứ nhất, ý thức học hỏi, tìm hiểu về lịch sử văn hóa của người Việt còn ít, nếu không muốn nói là đa phần còn thờ ơ với hồn cốt dân tộc.

Thứ hai, phần lớn bảo tàng chưa đủ sức hấp dẫn, lôi cuốn người xem và du khách đến thưởng ngoạn, tìm hiểu. Nên chăng cần tăng cường quảng bá bảo tàng di tích LSVH như những địa chỉ du lịch văn hóa nổi bật để hút khách.

Mặt khác cần đổi mới tư duy trưng bày, phục vụ ở bảo tàng theo hướng “thị trường”, nghĩa là phải làm cho “sản phẩm” ấy hấp dẫn, cần thiết mới có sức lôi cuốn người xem. Đầu tư cho bảo tàng di tích mà như kho hiện vật, không thu được tiền tham quan thì cần xem lại chính bảo tàng và cách quản lý di tích.

Đỗ Tấn Ngọc