Về những mùa xuân thời dựng Đảng

Nguyễn Ái Quốc với một số đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V (tháng 7-1924).

Mùa xuân năm 1930, Đảng ta ra đời ở Hương Cảng (Trung Quốc), một sự kiện ngày nay đã đi vào tâm thức của mọi người dân Việt Nam. Năm đó, để bảo đảm bí mật về sự kiện trọng đại, những người cách mạng Việt Nam dù ở trong nước hay ở nước ngoài không phải ai cũng được biết. Nhưng trong dòng chảy của những tư liệu lịch sử Đảng thì chúng ta ngày một hiểu biết thêm về nó. Tài liệu lưu trữ quan trọng nhất về mùa xuân năm ấy lại nằm ở Phông Đảng Cộng sản Đông Dương, Phông Lưu trữ cá nhân về Chủ tịch Hồ Chí Minh thuộc kho lưu trữ vĩ đại của Quốc tế Cộng sản, nay là Lưu trữ Lịch sử hiện đại của Liên bang Nga. Được cầm và tận mắt đọc những tư liệu, phần lớn viết tay của Bác, dù là tiếng Việt, Anh hay Pháp trong lưu trữ này, ai cũng cảm động vì ánh sáng trí tuệ, tình cảm của Người lan tỏa quanh ta từ những mẩu giấy, trang vở viết rất đơn sơ. Chưa bao giờ như trong các tháng 2, 3 năm 1930, Bác viết nhiều thư, báo cáo, các tập sách nhỏ như thế. Và giọng văn thảy đều phấn chấn vô cùng. Lá thư của Bác viết tay bằng tiếng Pháp, hai trang nhỏ, có dòng chữ Việt Thư gửi Lê Hồng Phong, đang học năm cuối ở Trường đại học Phương Đông để chuyển cho Bộ Phương Đông, đề ngày 2-3-1930. Thư báo cáo được dịch ra tiếng Nga, phụ đề 'Đến Mát-xcơ-va ngày 30-3-1930' và danh sách những nhân vật lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản (QTCS) mà Bộ Phương Đông sẽ gửi: Xta-lin, Pi-át-nhít-xki, Mông-mút-xô, Lô-dốp-xki, Vương Minh... Thư có đoạn: 'Đảng Cộng sản Việt Nam vừa được thành lập trên cơ sở hợp nhất Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng. Đảng đã bầu ra Ban Chấp hành Lâm thời. Hiện, Đảng có 500 Đảng viên với 40 chi bộ, một nửa số đó trong các nhà máy. Ảnh hưởng của Đảng ở miền Bắc mạnh hơn Nam Kỳ. Vào thời điểm hợp nhất, còn có một nhóm Cộng sản thoát thai từ đảng Tân Việt. Mặc dù vậy, chúng tôi nghĩ rằng, sớm hay muộn nhóm này cũng sẽ hợp nhất với chúng ta...'. Dấu ấn về những mùa xuân đầu tiên của Đảng còn được in dấu đặc biệt ở Mát-xcơ-va, trong những người cách mạng Việt Nam trẻ tuổi đang theo học tại Trường đại học Phương Đông và một số trường, học viện khác ở Liên Xô. Nhiều người trong số họ đã biết sự kiện thành lập Đảng ở Trung Quốc qua nguồn tin của Bộ Phương Đông, đặc biệt qua người lãnh đạo trực tiếp họ là Va-xi-li-ê-va, giảng viên về các vấn đề chính trị Đông Dương, phụ trách Phòng Đông Dương thuộc Bộ Phương Đông. Nhưng lúc đó, họ không được phép tổ chức công khai chào mừng sự kiện này. Sau cao trào 30 - 31, cái tên Đảng Cộng sản Đông Dương đã dần trở nên nổi tiếng trên các diễn đàn, báo chí của Quốc tế Cộng sản và những mùa xuân sau đó, ở Mát-xcơ-va đã liên tiếp có những lễ kỷ niệm Đảng đáng nhớ. Vào những năm 1932 - 1933, riêng lớp đặc biệt (nhóm A) của Việt Nam đã có bảy học viên, trong tổng số 20 người đang học tập trong những lớp khác nhau. Mùa xuân 1933, họ quyết định mừng ngày thành lập Đảng. Trong biên bản ghi rõ có Ban Tiếp tân, Ban Kỹ thuật, Ban Văn nghệ (chuẩn bị diễn kịch, hát...). Riêng diễn văn thì giao cho Đinh Tân, Mi-nin (tức Nguyễn Khánh Toàn) dịch ra tiếng Pháp. Đó là những năm tháng khó khăn. Đồng chí Trần Phú mới hy sinh ở Sài Gòn. Báo chí cũng đăng tin lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chết trong tù ở Hồng Công. Nhóm Việt Nam và Bộ Phương Đông đã tổ chức truy điệu Người ở Mát-xcơ-va. Hồng Thế Công (tức Hà Huy Tập) đã ngồi cặm cụi viết cuốn sách Phong trào cách mạng ở Đông Dương với lời đề 'Tặng đồng chí Nguyễn Ái Quốc, người sáng lập ĐCSĐD, đã mất ngày 26-6-1932 tại nhà tù Hồng Công', 'Tặng Lý Quý, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương (ĐCSĐD) đã chết trong nhà tù Sài Gòn tháng 10-1931 và tất cả các đồng chí đã hy sinh cho cuộc cách mạng ở Đông Dương'. Mùa xuân 1934, Bác Hồ sau 'vụ án Hồng Công' nổi tiếng, đã vượt qua thử thách trong nhà tù thực dân Anh, có mặt tại Mát-xcơ-va trong sự vui mừng tột độ của anh chị em học viên Việt Nam và các đồng chí lãnh đạo, bè bạn trong Quốc tế Cộng sản: G.Đi-mi-tơ-trốp, D.Ma-ru-in-xki. P.Mip, A.Ma-ty, V.Va-xi-li-ê-va... Một luồng gió mới thổi vào lòng người, vào lực lượng của Đảng ta vào mùa xuân 1935. Những người lãnh đạo Đảng hăm hở chuẩn bị tham dự Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản. Lê Hồng Phong viết bài diễn văn dài bảy trang bằng tiếng Nga về tình hình Đảng Cộng sản Đông Dương từ Đại hội VI Quốc tế Cộng sản (1928) đến trước Đại hội VII trình bày tại cuộc họp mặt đông đảo của bạn bè quốc tế... Một tư liệu quý báu trong hồ sơ lưu trữ của Quốc tế Cộng sản nói về vị thế của Đảng ta lúc ấy. Trong biên bản tốc ký bằng tiếng Nga của Đại hội, phiên họp 48 chiều 20-8-1935, do đồng chí M.Tô-rê chủ tọa, đồng chí Vương Minh, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản đã phát biểu ý kiến ca ngợi Đảng Cộng sản Đông Dương và cao trào 1930 - 1931. 'Lời đầu tiên tôi muốn dành cho sự lớn mạnh của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đảng này thành lập tháng 2-1930. Nửa sau năm 1931 và cả năm 1932, Đảng đã trải qua những thử thách khốc liệt, cơ quan lãnh đạo của Đảng bị tan rã. Đảng Cộng sản Đông Dương trước đó có 3.500 đảng viên... Trong giai đoạn hiện nay, hiện con số đảng viên đã lên tới 5.189 đồng chí, các tổ chức quần chúng có tới 7.679 người. Đảng có ba cơ quan tuyên truyền, lớn hơn cả thời kỳ 1930 - 1931...'. Vài hôm sau, tại ngôi nhà yên tĩnh ở ngoại ô Mát-xcơ-va, Bác Hồ và một số đồng chí cán bộ chủ chốt của Đảng ta dự bữa cơm thân mật do đồng chí M. Tô-rê và đồng chí Vương Minh chiêu đãi, chúc mừng Đảng ta qua một chặng đường rất oanh liệt... Vào dịp kỷ niệm Đảng ta tròn sáu tuổi, mùa xuân năm 1937, tại Mát-xcơ-va có cuộc mít-tinh ở Bộ Phương Đông, thu hút khá đông đảo các bạn bè quốc tế. Lê Hồng Phong, lúc đó là Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, chủ trì lễ kỷ niệm, cũng là người trực tiếp soạn thảo Diễn văn kỷ niệm Đảng Cộng sản Đông Dương bằng tiếng Nga. Nhiều bản báo cáo, bài viết của những nhân vật nổi tiếng, đặc biệt của A.Mar-ty, một trong những yếu nhân của Đảng Cộng sản Pháp, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản; của Tô-gli-át-ty, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản I-ta-li-a..., bên cạnh việc ca ngợi Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày càng có thêm nhiều tiếng nói khẳng định vai trò to lớn của Nguyễn Ái Quốc với Đảng ta, với phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế. Mùa xuân năm 1939 - 1940, Nguyễn Ái Quốc về Trung Quốc khi ngọn lửa của cuộc Đại chiến thế giới đã lan rộng trên đất nước này. Khác với năm 1924, khi Người xuất hiện ở Quảng Châu, lần này, Bác lại xuất hiện trong đội ngũ Hồng quân Trung Quốc, có một chức vụ vừa phải trong quân ngũ, làm công tác tuyên huấn, gắn mình với cuộc Vạn Lý trường chinh nổi tiếng... Mùa xuân năm 1940, tại Diên An, Bác Hồ đã để lại một văn bản, theo chúng tôi, có ý nghĩa tầm nhìn chiến lược để năm sau, khi Người về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, được triển khai từ chỗ đứng chân đầu tiên là căn cứ địa cách mạng Cao Bằng. Tập tài liệu được viết bằng tiếng Trung Quốc, gần 20 trang, có bản dịch ra tiếng Nga, qua thẩm định văn bản, dễ dàng khẳng định tác giả. Người đã nói vắn tắt về lịch sử Việt Nam, lịch sử của Đảng ta từ năm 1930, các cuộc vận động cách mạng đã trải qua. Trọng tâm của tác phẩm là lập luận của Người về một 'chiến lược biên giới', cụ thể là sự lựa chọn tỉnh địa đầu Cao Bằng, để xây dựng vốn chính trị, quân sự thật sự cho cuộc tổng khởi nghĩa trong tương lai gần. Người cũng đề nghị các Đảng anh em, dù trong điều kiện Quốc tế Cộng sản đã giải tán, vẫn có thể giúp đỡ hữu ích cho cuộc vận động giải phóng dân tộc sắp tới ở Việt Nam. Mùa xuân năm 1941, khi Bác bước qua cột mốc 108 trên biên giới Việt - Trung thuộc Hà Quảng (Cao Bằng), chọn hang Pác Bó - nơi có suối Lê-nin, núi Các Mác làm nơi ở và làm việc của mình, trực tiếp cùng Đảng ta lãnh đạo cách mạng làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945.