Văn sỹ đất Yên Thành

Cách đây đã 19 năm, tôi còn dạy học ở cấp 2 Đô Thành. Đầu xuân, Vũ Hoàng Trung ra rủ rê tôi đi lên huyện họp Hội văn nghệ. Ông Trung mượn được một cái xe Đờ Rim mới cứng của anh Lập - cán bộ lương thực, để chở tôi lên huyện.

Tôi ngồi trên cái nệm xe mát hết cả mông, nghĩ bụng: Cái ông Trung này tài thật, thơ cũng hay mà đi mượn xe cũng tài; Cả một đống của mà người ta dám giao cho 2 anh văn nghệ sỹ nửa mùa này cầm đi.

Và những câu thơ rất lạ của Vũ Hoàng Trung, lại dội về: “Cọng rơm đốt cháy mùa đông/ Mây lan nhả khói trắng đồng bụi mưa/ Chiều rồi cứ ngỡ còn trưa/ Đêm tàn lâu thế sao chưa đến ngày…”, ông này trong ký ức, có một mối tình khá đau, nghe kể là khi người nhà đi ăn hỏi, gánh đồ lễ đi qua chỗ lội, vấp ngã đổ hết cả đồ xuống sông, các cụ bảo: Xúi quẩy quá..; Thế là hủy luôn đám cưới. “Lá vàng cuốn gió đi qua/ ùn lên mây đuổi trời nhòa nhạt mưa/ Còi tàu gọi dưới ga xưa/ Đợi em tím ngõ vẫn chưa thấy về”... Thơ hay, chắc là viết cho bà này.

Vũ Hoàng Trung còn có người em rể là Nguyễn Việt Hòa, một người sinh ra hình như chỉ để làm lãnh đạo. Đời ông sẽ êm chèo mát mái, nếu không vướng vào văn chương. Ngay từ thời ấy, tôi với tư cách là cấp dưới của ông đã rụt rè cảnh báo với bề trên rằng: Ông viết thật thà quá, ở ngoài đời ra sao ông bê vào như vậy; Cả cái tên hàng, tên quán cũng không chịu thay đổi; Và dĩ nhiên là đến ngày “gặp nạn” ở Yên Thành, có một cây bút truyện ngắn trẻ có thể nối chí được Nguyễn Việt Hòa là Phan Xuân Hậu cũng đang bị cái lỗi này “Nói hai anh bỏ quá cho, không lại bảo cầm đèn chạy trước ô tô”.

Anh em văn sĩ đất Yên Thành đầu xuân 1996 tại nhà của nhà giáo Phan Hoàn.

Nhưng đó là chuyện sau này, còn lúc đó chúng tôi tụ họp tại nhà “Đường thị gia Phan Hoãn” bà vợ ông tiếp đãi chúng tôi tử tế... Trong buổi họp, đúng hơn là gặp mặt uống rượu, ngắm nghía nhau đòi thơ và cãi… Phan Văn Từ phải vất vả mới dẹp được bọn tôi, để ghi âm thơ Phan Trường Hy. Phan Trường Hy chính quê Diễn Quảng - Diễn Châu - Nghệ An, em ruột giáo sư nổi tiếng trong giới sử học Phan Đại Doãn. Vợ điên, con dại, cuộc đời lên bờ, xuống ruộng đã làm cho thơ ông khóc lên tiếng cười, và cười ra nước mắt, trước thế thái nhân tình, và gia cảnh: “10 năm gà trống nuôi con/ Trông cho mau lớn đá mòn mắt sâu/ Mười năm ngậm tủi nuốt sầu/ Nước mắt con chảy trôi màu tóc cha”. Cũng tại buổi gặp mặt ấy, Phan Thế Phiệt đọc một bài thơ gì đó có câu: “Khe khẽ thôi em, khe khẽ đau…”. Lúc đó trên kịch trường huyện nhà Phan Thế Phiệt đã nổi tiếng lắm. Ông viết kịch bản, còn Mai Trúc (đạo diễn), hai người này đã nổi đình nổi đám với vở “Hai nghìn ngày oan trái” dựa trên thiên phóng sự nổi tiếng: Người vô danh, của Hồ Hồng Tuyến (quê gốc ở Yên Thành), nhưng rồi nghe đâu vở kịch cũng “bị nạn”, tội xuất hiện sớm so với thời cuộc…

Mà sự đời cũng lạ, mấy năm sau Phan Thế Phiệt chuyển sang viết báo đạt liên tiếp mấy giải to ở Trung ương. Đang ầm ĩ thế, ông nhảy sang truyện ngắn lại gây tiếng vang trên văn đàn, rồi rút lui vào tiểu thuyết... Lại được phong “Nghệ nhân dân gian” vì có công bảo tồn dân ca xứ Nghệ. Tại buổi họp đó, Ngô Đức Tiến tóc đã trắng như bông, trầm ngâm nhìn lớp đàn em bọn tôi nhí nhố, có lẽ ông đang hoạch định chiến lược, để mấy năm sau chi hội văn học nghệ thuật Yên Thành ra đời… Lúc ấy bài thơ “Tản mạn đường 38” của ông với những câu: Mấy nghìn liệt sĩ quê ta nơi góc bể chân trời/ Có ai gửi đơn về đấu thầu mặt tiền đường 38/ Chống hạn chưa qua bão giông lại đến/ Nước mắt ngừng ướt vạt áo em tôi… Cũng đã làm cho ông vất vả một thời vì dư luận… Và ông, con người xót xa trên lại viết được những câu nôn ruột; “Vầng ngực em bên gầy bên lép/ Bên đầy để cho con/ Bên lép để cho chồng/ Ai chưa chồng/ Để thiên hạ nhìn nghiêng”. Và cũng thật thương tâm khi cuối đời ông phải viết những tâm sự thế này… ”Bạn đi đã mấy năm rồi/ Hòn Thàng ngày ấy bời bời cỏ lau/ Bạn bè nhìn trước ngó sau/ Gần nhau thì lắm hiểu nhau mấy người”…

Một nhân vật nữa xin phải nói đến trong buổi đó là: Phan Văn Từ, người nổi tiếng với bài thơ phổ nhạc “Nhịp cầu nối những bờ vui”. Ông nay đã hóa thành thiên cổ, để lại trong văn chương một ông lão ăn mày “Gió mở cửa/ Ùa về tia nắng sớm/ Ùa về ông lão ăn mày/ Ngỡ có tiệc xin vào dọn bát/ Mở rộng vòng tay chúng tôi thêm bạn/ Lại xách chai đi chịu rượu quán quen” Câu cuối của bài thơ thít lên như giữa mùa đông nhai phải ớt. Lần đầu tiên trong lịch sử thơ ca, Phan Văn Từ đã có công bồng một lão ăn mày lên ngồi ngang hàng với các nhà thơ… Để cho thiên hạ phải ngơ ngác...

Còn một người nữa có mặt trong buổi ấy, ông không thể không nhắc tới: Hoàng Chỉnh, phóng viên kỳ cựu báo Nghệ An, người có hứng liên tục, hứng thường xuyên, viết rất khỏe, ông có cái chân dung rất lạ, người thấp đậm, tóc loăn xoăn như mớ mì tôm vụn: Ông viết báo, viết ký, truyện ngắn và cả làm thơ nữa, ông đã sáng tạo ra nhân vật Trần Cam, với câu nói nổi tiếng, “Thưa giám đốc mười lần kính mến” trong khi xéc quần của nhân vật toang hoác ra giữa cuộc họp”… Ông chăm chỉ cẩn trọng ấy vậy mà đến sau năm 2000 vẫn bị nạn…

Sau cái buổi họp đáng nhớ ấy, thi thoảng trên đường đạp xe về nhà, tôi ghé thăm một người bạn mới: Tiến Dũng, giáo viên hội họa, kiêm mở quán và đục bia mộ để bán; Phẫn rồi phát, Tiến Dũng lao vào làm báo, viết truyện cuốn theo một loạt cây bút mới nổi như Phan Sáng, Văn Trường… Làm cho báo đài huyện nhà, tỉnh nhà rạo rực cả lên... Và Tiến Dũng ẵm luôn mấy giải thưởng lớn Trung ương rồi đi làm cho mấy báo… Có thể nói đây là cây bút viết rất dài, viết khỏe và rồi cũng bị tai nạn nghề nghiệp… Thực ra cụm từ này trong bài tôi dùng nhiều là đa số người cầm bút ở đây viết thực thà quá, đời còn nhiều cảnh khổ, nhiều trái ngang thì ta cứ xông vào cái đã. Và đôi khi vì những nạn nhân chất độc màu da cam, thương bệnh binh chưa được đãi ngộ, những thân phận cay đắng ở đời… Ta cứ viết với cả tấm lòng và rồi hậu quả mình chịu.

Đó là sự cay cực của nghề cầm bút mà tôi dám quả quyết rằng, trong đời người viết báo, viết văn ai ít nhất cũng bị dính đòn một lần. Thế mới thấy sự bạc bẽo của thế thái nhân tình là vậy, rồi những cảnh đời người cầm bút, đói, nghèo, ốm đau và cô độc “Ngang chiều bóng núi đổ sang/ Em là ngôi mộ đồi hoang xanh rờn/ Một đời chạy trốn cô đơn/ Tình anh giọt nắng buồn hơn nỗi buồn…”. Huy Huyền, nhà thơ khả kính của chúng ta “Đã gánh hết nỗi buồn của thiên hạ”, cũng là nỗi lòng đôi lúc bơ vơ trước cuộc đời, hay ngờm ngợp dưới đêm như trong thơ Đức Tuấn “Trăng nghiêng ánh chảy xuống trần/ Bao la trăng rải muôn phần nước non/ Khuya về đỉnh núi chon von/ Một vầng trăng bạc sắt son lời thề…” Cũng may mà Đức Tuấn còn có tình yêu để tựa vào, nhưng không có bóng dáng đàn bà thì tựa vào ai đây;

Có lẽ vậy, nên mấy năm sau giới văn nghệ huyện nhà có thêm mấy bóng hồng cho nó cân bằng âm - dương. Phan Hạnh, Phan Hiền, Hoàng Thu Hà rồi có cả hiện tượng cha con “Phụ tử văn chương quán thế” như Ngô Đức Tiến với Ngô Kiên, Ngô Chuyên, Phan Văn Từ với Phan Hạnh, Phan Hiền, Nguyễn Thanh Khầm với Nguyễn Đăng Chế, Nguyễn Đăng An, Hoàng Văn Hân với Hoàng Vĩnh Thắng, riêng với Hoàng Vĩnh Thắng có một giọng thơ lạ, nhưng đang yên đang lành vậy bỗng dưng anh bỏ bút, chuyển sang làm quản lý ở một trường cấp 3; Trong khi ông bố Hoàng Văn Hâm nghỉ quản lý (về hưu) lại lao vào làm báo, làm thơ, viết phê bình văn học, lĩnh vực nào cũng có thành tựu cả. Như cặp đôi Phan Bá Hàm/ Nguyễn Tâm Cẩn, 2 giáo viên nghỉ hưu một văn, một toán rỗi rãi làm luôn 2 cuốn văn hóa dân gian làng Liên Từ - (Liên Thành), làng Trường Sơn (Sơn Thành) và được giải thưởng lớn.

Có thời người ta bảo Yên Thành là “Thủ đô báo chí, ẵm hết giải thưởng của thiên hạ”… Lạ hơn nữa là ở đây có nhiều chuyện lạ: Một ông già như cụ Trần Long đóng cửa học chữ hán và dịch thơ gần 25 năm; đã dịch được gần 400 bài thơ Đường và 300 câu đối; và dám dịch lại cả thơ Hồ Chủ tịch, chỉ riêng bài Nguyên tiêu thôi ông cũng đã khiến thiên hạ vui vẻ chấp nhận. Khi ông triết lý rằng bài thơ cụ Xuân Thủy ông xin dịch lại thế này “Nguyên tiêu đêm sáng trăng tròn/ Xuân sông, xuân nước, lan tràn trời xuân/ Miền khói sóng, bàn việc quân/ Nửa đêm trở lại trăng ngân đầy thuyền”.

Cả hội nghị mừng báo chí đầu xuân năm đó vỗ tay. Sau tạp chí Sông Lam, cơ quan ngôn luận của văn nghệ tỉnh in lại bản dịch này… Rồi thì có lần Ngô Đức Tiến nói với tôi rằng “Năm qua Quế Văn viết được 350 tin bài… Một con số “khủng”, nếu đúng vậy, hay Đặng Hồng Thiệp, trung bình cứ mỗi năm in một tập thơ, gia sản có đến mười mấy tập... Vậy mà vẫn đạt giải cao trong một cuộc thi thơ cấp Trung ương… Rồi lạ nữa là ông Nguyễn Thế Kỷ, liên tiếp thăng chức từ phóng viên lên tổng biên tập báo tỉnh, lên phó ban tuyên giáo Trung ương, rồi Tổng giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam, có thơ phổ nhạc, viết cả kịch bản cải lương nữa mà người xem đông lắm…

Một tin mừng nữa là huyện nhà đã chuẩn bị cho ra mắt một bảo tàng “Lúa nước” văn nghệ sĩ tha hồ mà ngắm nghía thúng, mủng, dần, sàng, cối xay, cối đạp, liềm hái… để rồi mà viết báo, mà làm thơ. Và truyện tập 700 năm văn thơ Yên Thành chuẩn bị ra đời, văn nghệ sĩ Huyện Yên kể ra cũng được trân trọng thật, thảo nào đi ra không dứt được. Phó giáo sư, Tiến Sĩ Nguyễn Thế Kỷ ở tận Trung ương mà vẫn cứ “Xa ngái nào cũng mơ về rú Gám/ Bến nước nào cũng dội sóng sông Dinh” nữa là, huống chi những kẻ cầm bút khác và có lẽ vậy. Mười mấy năm nay, đều đặn, cứ dịp Nguyên tiêu - ngày thơ Việt Nam là huyện nhà lại tổ chức gặp mặt văn nghệ sĩ. Hiếm có huyện nào duy trì đều đặn vậy: Thế mới gọi là huyện Yên, chả thế hơn 10 thế kỷ trước có vị vua chúa định chọn đất này làm kinh đô. Có những bậc văn tài xuất chúng như trạng nguyên Bạch Liêu, hay các vị trạng nguyên 3 đời cũng đỗ như Hồ Tông Thốc, Hồ Tông Đốc, Hồ Tông Thành… Chả trách đất này sinh khí văn chương ngàn đời vẫn phát; Nối nguồn văn hóa vươn tới mãi ngàn sau.

Trần Ngọc Khánh