Vải không dệt từ filament polyethylen thuộc nhóm 63.07

Túi ép Tyvek dạng cuộn gồm 2 lớp, một lớp trong suốt được trình bày dưới dạng mang plastic; một lớp mờ đục trình bày dưới dạng vải không dệt từ filament polyethylen (trong đó polyethylen chính là một loại polyolefin) thuộc nhóm 63.07.

Trước thắc mắc của Công ty TNHH Johnson &Johnson Việt Nam về việc phân loại mã số hàng hóa NK cho sản phẩm Túi ép Tyvek dạng cuộn.

Túi ép Tyvek

Theo Tổng cục Hải quan, về bản chất hàng hóa, qua kiểm tra, rà soát hồ sơ thông báo kết quả phân tích của Chi cục Kiểm định hải quan 3 cho thấy: Tài liệu kỹ thuật do công ty cung cấp (phần mô tả hàng hóa): “túi và cuộn được cấu tạo từ hai lớp màng. Lớp màng trong suốt là lớp mỏng polyethylene/polyester laminate và lớp màng đục Tyvek, vải không sệt pplyolenfin”.

Kết quả phân tích của Chi cục Kiểm định hải quan 3: “Sản phẩm dạng ống được ép dẹt, chiều rộng 200mm, gồm 2 mặt (một mặt bằng vải không dệt từ filament polyetylen màu trắng chiếm 48% khối lượng, chiếm 66,1% độ dày; một mặt plastic trong suốt bằng polyetylen chiếm 51,8% khối lượng, chiếm 33,9% độ dày), đã được dán kín ở 2 cạnh theo chiều dọc hở 2 đầu đóng thành dạng cuộn, dọc trên mép dán có in thông tin (nhà sản xuất, các hướng dẫn, khuyến cáo sử dụng...) và vạch mày chỉ thị, chiều dài 70m/cuộn (theo khai báo hải quan)”.

Đối chiếu các chỉ tiêu kỹ thuật tại các văn bản, bản chất mặt hàng theo kết quả phân tích hoàn toàn chính xác và phù hợp với tài liệu kỹ thuật mà Công ty cung cấp. Theo đó, bản chất mặt hàng đi từ polyetylen, gồm 2 lớp: một lớp trong suốt được trình bàu dưới dạng màng plastic; một lớp mờ đục trình bày dưới dạng vải không dệt từ filament polyethylen (trong đó polyethylen chính là một loại polyolefin).

Đối với nguyên liệu đầu vào HDPE: nguyên liệu này là kết quả của việc trùng hợp các phân tử Ethylen trong áp suất thấp xúc tác crom hay sillic để tạo thành polyetylen tỷ trọng cao. Như vậy, mặt mờ đuch của sản phẩm mặc dù có nguồn gốc từ HDPE nhưng thực tế đã trải qua một quá trình kéo sợi để tạo thành filament, là nguyên liệu phổ biến của ngành dệt.

Về phân loại hàng hóa, căn cứ nội dung Chú giải 1H phần XI- Nguyên liệu dệt và các sản phẩm dệt của Danh mục hàng hóa XNK Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư 65/2017/TT-BTC: “Phần này không bao gồm: ...(h) Các loại vải dệt thoi, dệt kim hoặc móc, phớt hoặc sản phẩm không dệt, đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép với plastic, hoặc các sản phẩm làm từ các vật liệu đó, thuộc Chương 39”.

Theo nội dung trên “vật liệu đó” ở đây được hiểu là các loại vải dệt thoi, dệt kim hoặc móc, phớt hoặc sản phẩm không dệt, đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép với plastic, hoặc các sản phẩm làm từ các vật liệu đó, thuộc Chương 39. Như vật, sản phẩm của Công ty có lớp sản phẩm không dệt chưa được ngâm tẩm, tráng phủ ép với plastic nên không thuộc phạm vi điều chỉnh của Chú giải 1H.

Theo đó, căn cứ cấu tạo, chức năng thực tế của mặt hàng theo kết quả phân tích, áp dụng Quy tắc 3 (b), mặt hàng là sản phẩm kết hợp giữa plastic và vải không dệt, có cấu tạo và công dụng là vật liệu bao gói ở dạng chưa hoàn chỉnh, tại lớp vải không dệt có in que chỉ thị màu nên lớp vải không dệt là lớp mang lại đặc trưng cho hàng hóa, Mặc dù lớp màng nhựa chiếm tỷ trọng trội hơn, nhưng lớp vải không dệt lại có độ dày lớn hơn, do vậy áp dụng phân loại mặt hàng theo lớp vải không dệt thuộc nhóm 63.07, mã số 6307.90.90 tại Danh mục hàng hóa XNK Việt Nam.

Đảo Lê