Từ lợi ích cộng đồng

“Bơi Đăm, rước Giá, hội Thày/Vui thì vui vậy, chẳng tày Rã La” - câu ca dao xưa nói về những hội làng, giờ nơi còn, nơi mất. Và không phải thứ gì cũng tự nhiên mất đi qua năm tháng, những cái “lệ làng” cũng thế.

Từ lợi ích cộng đồng - Ảnh 1

Nhiều người trẻ nghe câu ca dao sẽ tự hỏi “Rã La” thực chất là gì, tại sao có thời nó được trọng vọng đến thế.

Bây giờ làng La vẫn là một địa chỉ yêu thích của những người yêu văn hóa truyền thống. Nhưng cái đêm “Rã La” huyền thoại thì chỉ còn trong truyền thuyết.

Phan Kế Bính chép rằng: “Cứ đến ngày rã đám, trong khi đang tế tắt hết đèn nến, đình miếu tối mù, rồi đàn bà đàn ông, bất cứ ai, đùa lẫn nhau một lát”. Cái sự đùa lẫn nhau này, theo nhiều nhà nghiên cứu, thực chất là “tự do ân ái để cầu mùa”.

Tất nhiên, cũng có nhiều nhà nghiên cứu khẳng định chắc nịch rằng đấy chỉ là truyền thuyết. Nhưng dù có thế nào, thì cái đêm rã hội làng La ấy, cũng không thể tồn tại được trong thời hiện đại. Lý do thì không cần giải thích nhiều.

Bối cảnh xã hội thay đổi, luật pháp thay đổi, các quan niệm về văn hóa cũng không thể giữ nguyên vẹn cho dù được gắn mác “truyền thống”.

Nhưng không phải cái gì cũng mất. Tôi sống ở một phường ngoại thành Hà Nội. Mới chỉ ba đời trước, nó còn là một vùng đất khẩn hoang, thuộc Hà Tây cũ. Bây giờ, diện tích đất nông nghiệp vẫn còn rất nhiều, nhưng nó đã thành một “phường”, đã đô thị hóa phần lớn, và như mọi phần khác của Hà Nội, người nhập cư đến rất đông.

Mỗi năm Tết đến, ông tổ trưởng dân phố, một người địa phương, lại tới gặp từng hộ để quyên tiền tổ chức hội làng.Trước khi quyên góp, tôi nhìn thấy trong sổ của ông có một danh sách rất dài. Chúng tôi đóng góp tổ chức cái hội làng ấy, đơn giản bởi nó là một nét văn hóa đẹp cần giữ. Ở đây, việc “đẹp” hay “xấu” không phải là một kết luận cảm tính. Nó đã vượt qua một cuộc kiểm nghiệm dân chủ khắc nghiệt. Tiền là lá phiếu dân chủ nhất có thể (vì không có tiền thì các vị bô lão trong làng có muốn giữ cũng chẳng giữ nổi bao lăm).

Một tập quán văn hóa giữ được hay không phụ thuộc vào lá phiếu dân chủ của những con người sống trong cộng đồng ấy. Lễ hội tổ chức lên mà chán quá, hương ước mà không phù hợp thực tiễn, thì cũng chẳng ai làm. Văn hóa không phải là cơ sở hạ tầng hay khung pháp lý để mà cứ có thì người ta phải đi theo.

Điều quan trọng với những nếp làng, không phải là xét đến nó như một đối tượng cần được điều chỉnh ở tầm vĩ mô. Phép vua không cần can dự vào lệ làng. Cái cần, là khuyến khích cơ chế dân chủ trong nội bộ cộng đồng ấy.

Ở Lào Cai, giữa những thung lũng đang trọc dần vì nạn chặt phá rừng, tôi gặp những già làng cấp tiến. Hương ước của họ cụ thể và hiệu quả hơn cả Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Lệ làng là giữ rừng, nhà nào chặt trộm cây thì bị phạt trâu, phạt lợn. Nhà nào giữ rừng tốt, canh gác không cho người ngoài làng vào phá, thì đến khi con cái lấy vợ, lấy chồng, sẽ được lên rừng chọn lựa hạn chế các cây gỗ của làng - mà dựng nhà cửa. Rừng ấy, bà con cùng trồng các cây thuốc, cây ăn quả dưới tán, để làm giàu. Già làng cấm cả phun thuốc diệt cỏ: rễ cây mà chết, có lũ tràn xuống, thì đất lở, người làng chết. Không một lực lượng kiểm lâm nào có thể bảo vệ rừng hiệu quả hơn cái hương ước chất phác ấy của người làng.

Trước những cái “lệ làng” như thế, tôi tự hỏi rằng liệu các cuộc tranh luận về văn hóa truyền thống, về văn hóa hiện đại, cái gì nên giữ, cái gì nên bỏ, có trở nên vô duyên?

Nghìn đời nay, những người dân làng đã tự quyết trên lợi ích của cộng đồng. Và cũng sẽ chẳng có chuyện người ta giữ những hủ tục gây hại cho đời sống của chính họ.