TTND có quyền yêu cầu cung cấp tài liệu để xác minh

Là quy định tại Nghị định 159/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật Thanh tra về tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân (TTND).

Điều 16 về hoạt động xác minh của Ban TTND quy định khi được Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn giao xác minh những vụ việc nhất định, Ban TTND có trách nhiệm thực hiện đúng nội dung, thời gian, phạm vi, nhiệm vụ được giao.

Trong quá trình thực hiện việc xác minh, Ban TTND có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp các thông tin, tài liệu cần thiết phục vụ cho việc xác minh; xem xét để làm rõ sự việc cần xác minh; việc xác minh được lập thành biên bản. Kết thúc việc xác minh, Ban TTND báo cáo với Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn về kết quả xác minh; đồng thời kiến nghị biện pháp xử lý.

Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân cần phải xử lý ngay thì lập biên bản và kiến nghị Chủ tịch HĐND hoặc Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, đồng thời giám sát việc thực hiện kiến nghị đó.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết và thông báo kết quả cho Ban TTND biết. Trường hợp kiến nghị đó không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Ban TTND có quyền kiến nghị Chủ tịch HĐND hoặc Chủ tịch UBND cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xem xét, giải quyết, xử lý trách nhiệm.

Ban TTND họp định kỳ mỗi quý một lần để kiểm điểm công tác trong quý và triển khai công tác quý sau, trong trường hợp cần thiết có thể họp đột xuất.

Ban TTND thực hiện chế độ báo cáo mỗi quý một lần trước Hội nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam xã, phường, thị trấn; định kỳ 6 tháng một lần tiến hành sơ kết; hằng năm tổng kết hoạt động và báo cáo trước Hội nghị Ủy ban MTTQ Việt Nam xã, phường, thị trấn.

Về trách nhiệm của Ủy ban MTTQ Việt Nam, UBND xã, phường, thị trấn, thanh tra huyện, Mục 3 Nghị định quy định, Ủy ban MTTQ Việt Nam xã, phường, thị trấn thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại Điều 71 Luật Thanh tra; xem xét, giải quyết và đôn đốc việc giải quyết kịp thời kiến nghị của Ban TTND.

Chủ trì hoặc phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan bồi dưỡng nghiệp vụ công tác cho thành viên Ban TTND. Chủ trì việc tổ chức phối hợp giữa các tổ chức thành viên của Mặt trận để hỗ trợ hoạt động cho Ban TTND.

Mời đại diện Ban TTND tham dự cuộc họp của Ủy ban MTTQ Việt Nam xã, phường, thị trấn có nội dung liên quan đến hoạt động của Ban TTND.

UBND xã, phường, thị trấn thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại Điều 70 Luật Thanh tra; xem xét, giải quyết kịp thời các kiến nghị của Ban TTND. Trường hợp nội dung kiến nghị vượt quá thẩm quyền thì báo cáo UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết, xử lý, đồng thời thông báo cho Ban TTND biết.

Xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật, cản trở hoạt động qua Ban TTND, đe dọa, trả thù, trù dập thành viên Ban TTND; mời đại diện Ban TTND tham dự các cuộc họp của UBND có nội dung liên quan đến nhiệm vụ giám sát của Ban TTND; cấp kinh phí cho Ban TTND theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và tạo điều kiện thuận lợi để Ban TTND hoạt động.

Thanh tra huyện có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp hướng dẫn nghiệp vụ công tác cho các Ban TTND ở xã, phường, thị trấn.

Kinh phí hoạt động của Ban TTND do UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp cân đối cho ngân sách cấp xã để UBND cấp xã cấp cho Ban TTND hoạt động; được sử dụng để chi cho việc tổ chức các cuộc giám sát; các cuộc xác minh, cuộc họp; chi thù lao trách nhiệm cho các thành viên và cho hoạt động khác của Ban TTND theo quy định của pháp luật. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm ban hành Thông tư hướng dẫn về kinh phí hoạt động của Ban TTND ở xã, phường, thị trấn.

B.B.Đ