Do biến động thị trường và nguyên liệu đầu vào tăng cao, các doanh nghiệp thép thông báo tăng giá thêm 200.000 đồng/tấn. Đây là lần thứ hai liên tiếp trong năm 2026 giá thép được điều chỉnh.
Ngày 13/1, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt tăng khi Trung Quốc cam kết gói chính sách kích thích kinh tế.
Từ năm 2026, mặt hàng thép cây Việt Nam xuất sang Vương quốc Anh phải dùng chung hạn ngạch với mức trần 20% mỗi quý và chịu thuế 25% nếu vượt hạn ngạch.
Thép cây Việt Nam không còn được miễn trừ biện pháp tự vệ tại Vương quốc Anh do lượng nhập khẩu vượt ngưỡng 3%. Doanh nghiệp sẽ phải dùng chung hạn ngạch với mức trần 20% mỗi quý và chịu thuế 25% nếu vượt hạn ngạch...
Ngày 9/1, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt Đại Liên giảm nhẹ do lượng hàng tồn kho tại cảng tăng, nhưng báo cáo ghi nhận mức tăng trong tuần.
Giá thép xây dựng trong nước ngày 9/1 giữ ổn định ở mức 12.520-13.950 đồng/kg. Trên thị trường quốc tế, giá quặng sắt giảm nhẹ do áp lực chốt lời sau chuỗi tăng dài.
Ngày 9/1, giá thép xây dựng trong nước duy trì ổn định trong khoảng 12.520 – 13.950 đồng/kg. Trong khi đó, giá quặng sắt thế giới giảm do áp lực chốt lời sau chuỗi tăng dài.
Ngày 9/1, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt giảm sau bốn ngày tăng liên tiếp khi các nhà đầu tư chốt lời.
Kể từ ngày 1-1-2026, sản phẩm thép cây nhập khẩu từ Việt Nam vào Vương quốc Anh sẽ bị áp dụng biện pháp tự vệ.
Ngày 7/1, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt đạt mức cao nhất trong 5 tháng do nhu cầu từ Trung Quốc.
Giá quặng sắt thế giới tăng nhờ nhu cầu tích trữ tại Trung Quốc trước Tết Nguyên đán, trong khi giá thép thanh tại Thượng Hải giảm nhẹ xuống 3.093 nhân dân tệ/tấn.
Thị trường thép thế giới ghi nhận sự phân hóa khi giá thép thanh giảm 0,3% nhưng quặng sắt tăng lên 809 nhân dân tệ/tấn nhờ nhu cầu tích trữ từ Trung Quốc. Tại Việt Nam, giá thép xây dựng duy trì ổn định.
Ngày 6/1, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt của Trung Quốc khởi đầu năm mới cao hơn do nhu cầu mạnh và nguồn cung khan hiếm.
Trong phiên giao dịch đầu năm, giá quặng sắt thế giới đồng loạt đi lên nhờ nhu cầu tích trữ tại Trung Quốc, trong khi giá thép xây dựng tại Việt Nam tiếp tục duy trì đà đi ngang.
Ngày 5/1, giá thép xây dựng nội địa tiếp tục đi ngang tại cả ba miền. Trên thị trường quốc tế, giá thép cây tại Thượng Hải giảm về mức 3.156 Nhân dân tệ/tấn trong khi quặng sắt biến động trái chiều.
Ngày 5/1, giá thép xây dựng trong nước tiếp tục đi ngang tại cả ba miền. Trên sàn Thượng Hải, giá thép cây kỳ hạn giảm xuống mức 3.156 Nhân dân tệ/tấn.
Thị trường thép nội địa duy trì sự ổn định tại cả ba miền trong phiên sáng 5/1. Trên thế giới, giá thép cây tại Thượng Hải giảm nhẹ xuống 3.156 Nhân dân tệ/tấn.
Ngày 5/1, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt kỳ hạn giao dịch trong biên độ hẹp, nhưng ghi nhận mức tăng hàng năm nhờ nhu cầu ổn định tại Trung Quốc.
Giá thép xây dựng trong nước duy trì ổn định quanh mức 12.730 - 13.650 đồng/kg vào ngày đầu năm 2026, đối lập với xu hướng sụt giảm mạnh trên thị trường quốc tế.
Ngày 1/1/2026, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt ghi nhận mức tăng hàng năm trong đợt phục hồi mạnh mẽ được thúc đẩy bởi xuất khẩu thép.
Ngày 31/12, giá thép xây dựng trong nước duy trì ổn định quanh mức 13.000-13.600 đồng/kg. Trong khi đó, giá quặng sắt thế giới chịu áp lực giảm do nguồn cung tăng mạnh.
Ngày 31/12, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt giảm do lượng hàng vận chuyển ngày càng tăng.
Ngày 30/12, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt tăng mạnh khi Trung Quốc cam kết thực hiện các chính sách tài khóa chủ động hơn vào năm 2026.
Ngày 29/12, thị trường thép trong nước giữ nguyên giá bán. Trong khi đó, do nguồn cung BHP khan hiếm và sản lượng gang nóng tăng mạnh khiến quặng sắt Đại Liên tiếp tục tăng.
Thị trường thép trong nước ngày 27/12 duy trì ổn định trong khi giá thép và quặng sắt quốc tế đồng loạt đi xuống do áp lực nhu cầu suy yếu từ thị trường Trung Quốc.
Ngày 26/12, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt Đại Liên tiếp tục tăng nhờ thị trường nhà ở Bắc Kinh trở nên dễ dàng hơn.
Ngày 25/12, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt Đại Liên kết thúc phiên tăng điểm nhờ kỳ vọng vào thị trường bất động sản Trung Quốc.
Giá thép xây dựng trong nước ổn định quanh mức 13.000-13.640 đồng/kg. Trong khi đó, giá quặng sắt thế giới giảm do tồn kho tại cảng Trung Quốc tăng lên 145,5 triệu tấn.
Giá thép hôm nay 23/12/2025: Giá quặng sắt tại Trung Quốc tăng phiên thứ năm liên tiếp do lợi nhuận nhà máy phục hồi, thúc đẩy giá thép thế giới. Trong khi đó, thị trường thép xây dựng Việt Nam giữ giá đi ngang.
Giá quặng sắt tại Trung Quốc ghi nhận chuỗi tăng 5 phiên liên tiếp nhờ lợi nhuận nhà máy hồi phục. Tại thị trường Việt Nam, giá thép Hòa Phát duy trì ổn định ở mức 13.500 đồng/kg.
Ngày 23/12, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt Đại Liên tiếp tục tăng nhờ lợi nhuận nhà máy thép phục hồi, thúc đẩy nhu cầu.
Giá thép nội địa hôm nay 22/12 tiếp tục đi ngang. Trên thị trường quốc tế, giá quặng sắt tăng mạnh nhờ kỳ vọng các nhà máy Trung Quốc đẩy mạnh tích trữ hàng tồn kho.
Ngày 22/12, giá thép xây dựng nội địa duy trì ổn định tại mức 13.000-13.600 đồng/kg. Trên thị trường quốc tế, giá quặng sắt ghi nhận tuần tăng mạnh nhất kể từ tháng 10.
Ngày 22/12, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt tiếp tục tăng nhờ biên lợi nhuận thép được cải thiện và kỳ vọng bổ sung nguồn cung.
Thị trường thép và quặng sắt thế giới khép lại tuần giao dịch tích cực, được thúc đẩy bởi kỳ vọng Trung Quốc tích trữ nguyên liệu. Trong khi đó, giá thép xây dựng trong nước vẫn đi ngang.
Giá thép hôm nay 20/12/2025: Giá thép trong nước đi ngang, giá quặng sắt thế giới ghi nhận tuần tăng mạnh nhất 2 tháng qua do kỳ vọng Trung Quốc bổ sung dự trữ
Giá thép xây dựng trong nước duy trì ổn định quanh mức 13.000-13.600 đồng/kg, trong khi giá quặng sắt thế giới ghi nhận tuần tăng trưởng mạnh nhất kể từ cuối tháng 10.
Ngày 20/12, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt dự kiến tăng trong tuần này nhờ kỳ vọng về việc Trung Quốc bổ sung nguồn cung trong kỳ nghỉ lễ.
Ngày 19/12, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt tiếp tục tăng nhờ biên lợi nhuận thép được cải thiện và kỳ vọng bổ sung nguồn cung.
Ngày 17/12, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt tăng nhẹ do kỳ vọng về việc bổ sung hàng tồn kho trong mùa lễ hội.
Ngày 16/12, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt Đại Liên chạm mức thấp nhất trong 5 tháng khi Trung Quốc lên kế hoạch điều tiết xuất khẩu thép.
Ngày 15/12, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt giảm nhẹ, dự kiến sẽ phục hồi nhờ lượng hàng xuất khẩu tăng.
Ngày 13/12, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt Đại Liên giảm do nhu cầu suy yếu và lượng tồn kho tăng cao; dự kiến sẽ ghi nhận tuần giảm thứ hai liên tiếp.
Ngày 12/12, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt biến động trong biên độ hẹp khi thị trường chờ đợi tín hiệu chính sách từ Trung Quốc.
Ngày 11/12, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt phục hồi khi dữ liệu kinh tế yếu kém của Trung Quốc làm sống lại hy vọng về gói kích thích kinh tế.
Giá quặng sắt trên các sàn giao dịch Trung Quốc tăng vọt sau loạt dữ liệu sản xuất gây thất vọng, làm dấy lên kỳ vọng Bắc Kinh có thể tung thêm biện pháp hỗ trợ tăng trưởng trong năm 2026. Tuy nhiên, các cơ quan nhà nước cảnh báo đà tăng này có thể đang vượt xa nhu cầu thực tế. Điều gì đang diễn ra?
Ngày 10/12, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt tiếp tục thua lỗ khi dự án Simandou bắt đầu cung cấp.
Xuất khẩu thép của Trung Quốc tăng mạnh trong năm nay khi nhu cầu nội địa – đặc biệt từ lĩnh vực bất động sản – suy yếu, trong khi xuất khẩu nhôm lại giảm.
Ngày 9/12, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt giảm do nhu cầu của Trung Quốc giảm sút.
Ngày 8/12, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt kỳ hạn giảm phiên thứ hai liên tiếp do nguồn cung toàn cầu gia tăng gây áp lực lên tâm lý thị trường.
Ngày 6/12, thị trường trong nước giữ nguyên giá bán; quặng sắt Đại Liên kết thúc tuần giảm do nguồn cung cải thiện, nhu cầu yếu của Trung Quốc.