Sáu tháng đầu năm, xuất siêu sang Hồng Kông (Trung Quốc) trên 3 tỷ USD

Việt Nam xuất siêu hàng hóa sang thị trường Hồng Kông 6 tháng đầu năm nay tăng 14,6% so với cùng kỳ, đạt 3,03 tỷ USD.

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, kim ngạch thương mại 2 chiều Việt Nam – Hồng Kông (Trung Quốc) 6 tháng đầu năm 2018 đạt 4,59 tỷ USD tăng 5,6% so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Hồng Kông đạt 3,81 tỷ USD, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu từ Hồng Kông đạt 780,99 triệu USD, giảm 8,3%.

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là nhóm hàng duy nhất đạt kim ngạch trên tỷ USD xuất khẩu sang thị trường này, chiếm 27,5% trong tổng kim ngạch, đạt 1,05 tỷ USD, tăng 28,6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tiếp sau đó là 5 nhóm hàng đạt kim ngạch trên 100 triệu USD đó là: Điện thoại và linh kiện đạt 975,84 triệu USD, chiếm 25,6%, giảm 12,3%; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện đạt 588,75 triệu USD, chiếm 15,5%, tăng 41,6%; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 450,11 triệu USD, chiếm 11,8%, tăng 6,6%; dệt may đạt 118,05 triệu USD, chiếm 3,1%, tăng 15,7%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày đạt 110,07 triệu USD, chiếm 2,9%, tăng 14,6%.

Đa số các nhóm hàng xuất khẩu sang thị trường Hồng Kông 6 tháng đầu năm nay đều tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, sản phẩm nhựa dẫn đầu về mức tăng trưởng, tăng 158,8%, đạt 28,99 triệu USD. Nhóm hàng sắt thép cũng tăng mạnh 131,3%, đạt 0,41 triệu USD. Bên cạnh đó, một số nhóm hàng cũng đạt mức tăng trưởng tốt như: Gạo tăng 48,9%, đạt 22,41 triệu USD; sản phẩm nội thất từ chất liệu khác gỗ tăng 47,4%, đạt 0,89 triệu USD; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện tăng 41,6%, đạt 588,75 triệu USD.

Tuy nhiên, nhóm hàng kim loại thường xuất khẩu sang Hồng Kông lại sụt giảm mạnh nhất 57,7% so với cùng kỳ, đạt 6,44 triệu USD. Các nhóm hàng cũng giảm mạnh như: Gỗ và sản phẩm gỗ giảm 44,7%, đạt 4,36 triệu USD; sản phẩm hóa chất giảm 26%, đạt 4,43 triệu USD; xơ, sợi dệt giảm 24,1%, đạt 38,85 triệu USD.

Xuất khẩu sang Hồng Kông 6 tháng đầu năm 2018

ĐVT:USD

(*Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)

Thủy Chung

Vinanet