Sau kìm nén và giật cục

Nhìn dưới góc độ kinh điển, có ba thành tố cơ bản trong chính sách vĩ mô: chính sách tiền tệ (tín dụng, lãi suất, tỷ giá), chính sách tài khóa (thu chi ngân sách, chi tiêu công) và chính sách đầu tư. Hệ quả của việc thực hiện các chính sách này phản ánh trên các tiêu chí kinh tế vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng, việc làm.

Nhìn lại chính sách vĩ mô 5 năm 2006-2011, thấy rõ, tín dụng tăng nhanh, xấp xỉ 40% một năm, thậm chí năm 2007 lên đến 54%. Tổng dư nợ tín dụng lên đến 120% GDP; lãi suất tăng cao trên 1 con số, năm 2008-2011 khoảng 20%. Tỷ giá trung bình 5 năm VND mất giá 5,1%.

Thâm hụt ngân sách liên tục và nợ công tăng nhanh. Tổng đầu tư toàn xã hội và đầu tư nhà nước tăng cao, hiệu quả đầu tư thấp. Hệ số ICOR tăng cao hơn các nước ở cả ba khu vực, đặc biệt là khu vực nhà nước.

Vốn đầu tư toàn xã hội liên tục tăng và tăng cao trong giai đoạn 2006-2010, trong khi tỷ lệ tiết kiệm giảm. Giai đoạn 2001-2005, tổng đầu tư toàn xã hội bình quân hằng năm bằng 39,2% GDP, tỷ lệ tiết kiệm đạt trên 30% GDP, tăng trưởng kinh tế khoảng 7,5%.

Giai đoạn 2006-2010, tổng đầu tư toàn xã hội bình quân lên đến 42,4% GDP, trong khi tỷ lệ tiết kiệm chỉ ở mức 28% GDP, tăng trưởng xấp xỉ 7%. Trong tổng đầu tư toàn xã hội, đầu tư nhà nước (từ ngân sách, các khoản vay của Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước) chiếm tỷ trọng cao nhất, bình quân 53,5% trong 10 năm.

Bối cảnh kinh tế vĩ mô như vậy, cách điều hành thì kìm nén và giật cục, dẫn đến lạm phát cao liên tục từ 2007 đến nay. Tăng trưởng cao nhưng có xu hướng chậm lại, hiệu quả thấp.

Năm 2011, sản xuất, kinh doanh giảm sút nghiêm trọng, ảnh hưởng đến việc làm, do lãi suất tín dụng tăng. Đặc biệt, vấn đề thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.

Ổn định kinh tế vĩ mô bền vững là yêu cầu cấp bách, điều kiện tiên quyết của cải cách kinh tế. Đó là chỉ báo quan trọng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và phân phối nguồn lực, ngăn chặn đầu cơ, hạn chế rủi ro.

Tuy nhiên, lựa chọn đầu tiên phải là kiềm chế lạm phát và đảm bảo thanh khoản, sau đó mới là lạm phát và tăng trưởng.

Về lạm phát, nguyên nhân chủ yếu là do giá dầu mỏ tăng cao, gây lạm phát chi phí đẩy trong nước, tạo hiệu ứng “lan tỏa sóng”. Những nguyên nhân khác không lớn do kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, cầu trong nước suy giảm.

Tiêu chuẩn khống chế là giữ lạm phát dưới 10% để giữ niềm tin trong dân, chưa cần đưa ngay lạm phát xuống mức thấp.

Vì vậy, giải quyết thanh khoản là ưu tiên trước mắt. Tăng cung tiền để đảm bảo thanh khoản, giãn rộng thời gian tái cấp vốn, giúp DN có điều kiện quay vòng vốn, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh.

Ngân hàng Nhà nước mua lại các ngân hàng thương mại mất thanh khoản. Việc mua lại này không làm tăng trưởng tín dụng mà chủ yếu ngăn chặn nợ xấu lan sang các ngân hàng lành mạnh. Khi thực hiện giải pháp này, Ngân hàng Nhà nước có thể phát hành tín phiếu để rút tiền về.

Khi đã giải quyết được vấn đề thanh khoản, bỏ lãi suất trần huy động để thị trường xác lập cân bằng, từ đó chuyển sang xử lý các mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát. Ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định bền vững tạo tiền đề đưa lạm phát xuống 6-7% vào các năm sau.

Việc khống chế mức tăng trưởng tín dụng là cần nhưng không nên giao chỉ tiêu tăng theo tỷ lệ phần trăm như hiện nay, mà chủ yếu thông qua các công cụ thị trường, như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ an toàn vốn... và thực hiện kiểm tra diễn biến thực tế để điều chỉnh các tiêu chí này.

Hiện, chúng ta đang mắc kẹt trong bộ ba bất khả thi về chính sách tiền tệ, nhưng chưa thể áp dụng chính sách tỷ giá thả nổi. Vấn đề này có thể tính đến hai giải pháp.

Thứ nhất, đánh thuế tua bin với những dòng vốn ngắn hạn (quy định thời gian rút vốn tối thiểu không phải chịu thuế, ngắn hơn thời gian đó phải chịu thuế).

Thứ hai, khi đã kiềm chế lạm phát bền vững, nới lỏng biên độ tỷ giá để khoảng rộng cho thị trường điều chỉnh, qua đó, đo xu hướng vận động của tỷ giá một cách khách quan.

Thực hiện chính sách tài khóa, cần tuân thủ cách tính bội chi ngân sách theo thông lệ quốc tế. Kiên quyết giảm chi tiêu công, giảm tỷ lệ huy động vào ngân sách để tăng sức đầu tư của khu vực dân doanh, tạo áp lực giảm chi.

Chặn đà tăng nợ công, xác định tiêu chuẩn nợ công không phải theo tỷ lệ GDP, mà theo khả năng trả nợ (kim ngạch xuất khẩu, dự trữ ngoại hối).

Trong chính sách đầu tư, cần đưa tỷ trọng đầu tư công trong tổng đầu tư toàn xã hội tương đương các nước ASEAN, hoàn thiện chính sách huy động đầu tư từ khu vực tư nhân, nhất là chính sách hợp tác công - tư.

Thực hiện lộ trình cải cách cho năm 2012 và xa hơn, phải xây dựng được thể chế kinh tế thị trường hiện đại theo 5 tiêu chí

Một là, đồng bộ (chú ý thị trường bất động sản, thị trường tài chính, thị trường lao động gắn với cải cách tiền lương, thị trường khoa học công nghệ).

Hai là, công khai, minh bạch.

Ba là, tăng cường tính cạnh tranh, kiểm soát độc quyền tự nhiên.

Bốn là, định vị lại mối quan hệ nhà nước và thị trường, chuyển từ nhà nước điều hành trực tiếp nền kinh tế sang nhà nước kiến tạo và phát triển.

Năm là, hướng về người tiêu dùng, lấy người tiêu dùng làm chủ thể.

Cùng với những bước đi đó, cần đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, trước mắt, tập trung vào ba nội dung cấp bách, coi trọng tính đồng bộ.