Phát triển bền vững doanh nghiệp tư nhân từ góc nhìn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

Một loạt hạn chế, yếu kém của kinh tế tư nhân đã được Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành T.Ư Đảng khóa XII vừa qua thảo luận, phân tích, đánh giá và chỉ rõ. Đó là phần lớn doanh nghiệp (DN) tư nhân có quy mô nhỏ, trình độ công nghệ thấp và chậm đổi mới; trình độ quản trị, năng lực tài chính, năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh còn yếu kém; chủ yếu tham gia ở phân khúc thị trường có giá trị gia tăng thấp…

Phát triển bền vững doanh nghiệp tư nhân từ góc nhìn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo - Ảnh 1

Bên cạnh việc tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân cần tập trung khắc phục những hạn chế, yếu kém này, kinh tế tư nhân mới có thể phát triển mạnh mẽ, thật sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Xu hướng “nhỏ hóa” quy mô

Theo Báo cáo Năng lực cạnh tranh Việt Nam, các DN tư nhân Việt Nam thiếu nền tảng về tri thức và thiếu năng lực về vốn để có thể đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế toàn cầu hiện nay. Các DN nhỏ và vừa chiếm tới 98,4% số lượng DN trong khu vực tư nhân. Thiếu đào tạo về quản lý và quá trình tích tụ vốn còn nhiều hạn chế rõ ràng là những trở ngại chính, gây khó khăn cho việc cải thiện năng lực của các DN Việt Nam theo yêu cầu chuyển dịch từ một nền kinh tế dựa trên các yếu tố sản xuất sang một nền kinh tế dựa vào tri thức. Đây là những trở ngại hàng đầu đối với việc nâng cao trình độ công nghệ, trình độ sản xuất kinh doanh của DN và hạn chế năng lực cạnh tranh của quốc gia.

Do vậy, yêu cầu đẩy nhanh quá trình tích tụ vốn, hình thành vốn trong nền kinh tế, trong khu vực kinh tế tư nhân và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, năng suất của khu vực DN này là một trong những trụ cột quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững, đưa nước ta thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và hướng tới thịnh vượng trong tương lai. Quá trình tích tụ vốn chủ sở hữu có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với ngành sản xuất công nghiệp, nhất là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, ngành đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng của cả nền kinh tế những năm gần đây.

Trong ngành chế biến, chế tạo, số lượng DN nhỏ và vừa (DNNVV) thuộc khu vực tư nhân đã tăng lên nhanh chóng, từ 10.399 DN vào năm 2000 lên tới 63.244 DN vào năm 2014. Sự tích tụ của tổng vốn chủ sở hữu là cơ sở vững chắc cho các DN ngành chế biến, chế tạo tăng tổng nguồn vốn và hình thành tổng tài sản. Nếu như năm 2005, tổng nguồn vốn bình quân trong ngành là khoảng 860,22 nghìn tỷ đồng thì chỉ sau 10 năm giá trị này đã tăng 3,58 lần, đạt gần 3,1 triệu nghìn tỷ đồng trong năm 2014. Tốc độ tăng trưởng vốn của DN trong ngành từ năm 2008 - 2010 và từ 2011-2014 là cao nhất.

Tuy nhiên, quy mô theo vốn chủ sở hữu của các DN tư nhân trong khu vực này bộc lộ nhiều vấn đề. Năm 2006, tổng số DN siêu nhỏ và DN nhỏ là 21.926, lần lượt cao gấp 24,1 và 9,7 lần số lượng DN vừa và DN lớn. Đến năm 2013, số DN nhỏ và siêu nhỏ là 54.220 DN, cao gấp 38,67 lần số DN vừa và 17,68 lần số DN lớn. Như vậy, trong hơn một thập kỷ qua, nhóm DN quy mô siêu nhỏ và nhỏ tăng trưởng về số lượng nhanh hơn nhiều so với DN vừa và DN lớn. Nói cách khác, sự phát triển về mặt số lượng DN trong ngành chế biến, chế tạo đang đi theo xu hướng “nhỏ hóa” về quy mô.

Quy mô nhỏ, mức độ vốn chủ sở hữu thấp khiến ngành chế biến, chế tạo chỉ có DN ở mức siêu nhỏ và nhỏ. Điều này dẫn đến năng lực tiếp cận công nghệ mới yếu, không tiếp cận được công nghệ và kiến thức hiện đại. So với các nước trong khu vực hoặc các nước có trình độ phát triền tương đương về thu nhập trung bình, quy mô vốn thì quá trình tích tụ vốn chủ sở hữu của DN Việt Nam diễn ra chậm hơn nhiều, dẫn đến quy mô vốn trung bình của các DN còn rất nhỏ sau thời gian dài hoạt động kinh doanh. Đây cũng là nguyên nhân khiến năng suất lao động của các DNNVV trong ngành chế biến chế tạo ở Việt Nam thấp hơn so với nhiều quốc gia khác, mặc dù năng lực làm việc của công nhân Việt Nam không kém công nhân các nước khác trên thế giới.

Thúc đẩy hình thành DN tư nhân quy mô vừa và lớn

Thúc đẩy quá trình tích tụ vốn, nâng cao quy mô vốn chủ sở hữu của các DNNVV trong ngành chế biến, chế tạo có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt. Bên cạnh đó, rất cần các cơ chế, chính sách và chương trình hỗ trợ của Nhà nước để đạt được mục tiêu này. Việc tích tụ vốn chủ sở hữu sẽ mang lại nhiều lợi ích như nâng cao số lượng DN quy mô vừa và quy mô lớn, cải thiện cơ cấu giữa DN siêu nhỏ, nhỏ và DN vừa và lớn. Nâng cao quy mô vốn chủ sở hữu, nhất là thông qua kênh tái đầu tư lợi nhuận, sẽ cải thiện đáng kể năng lực cạnh tranh của DN và của toàn ngành chế biến, chế tạo.

Lợi nhuận là tiền đề cho việc tích tụ vốn chủ sở hữu bằng nguồn nội lực của các DN tư nhân. Tuy nhiên, có tới hơn một phần ba số DN trong ngành chế biến, chế tạo thua lỗ trong nhiều năm. Nếu căn cứ vào chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế, “Báo cáo Thường niên DN Việt Nam năm 2015” do Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam thực hiện năm 2016 đã chỉ ra tỷ lệ DN ngành chế biến, chế tạo bị thua lỗ trong giai đoạn 2007-2014 dao động từ 21% đến 45,4%. Thua lỗ có ảnh hưởng xấu tới tích tụ vốn của DN trên nhiều khía cạnh. Điều dễ thấy nhất là thua lỗ làm xói mòn vốn chủ sở hữu của các DN, từ đó làm giảm vốn chủ sở hữu của DN qua các năm.

Do vậy, chính sách phát triển DN cần tập trung hơn nữa vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các DN tư nhân hơn là vào số lượng DN được đăng ký và thành lập mới. Đồng thời, trong giai đoạn tới, cần khuyến khích sự hình thành các DN tư nhân Việt Nam có năng lực cạnh tranh, có khả năng tạo những liên kết với DN FDI. Chìa khóa để mở đường dịch chuyển lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị tại các nước công nghiệp hóa sớm ở Đông Á chính là một khu vực kinh tế tư nhân trong nước năng động. Sau này, khi DN Việt Nam tiếp thu được bí quyết và có năng lực cạnh tranh toàn cầu cao hơn nhờ nâng cấp công nghệ, tận dụng được các lợi thế quy mô về vốn, về quy mô sản xuất, Việt Nam có thể đặt mục tiêu có một số DN chế biến, chế tạo đứng đầu chuỗi giá trị toàn cầu. Ở vị trí đó, lợi nhuận thu được sẽ lớn hơn nhiều so với các vị trí khác.

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần có những chính sách khuyến khích, thúc đẩy hình thành các DN tư nhân quy mô vừa và lớn, tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, nhất là trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Các DN này sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng và hiệu quả, đẩy mạnh phát triển các ngành và sản phẩm công nghiệp có giá trị gia tăng cao, giá trị xuất khẩu lớn, thúc đẩy quá trình kết nối với chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao vị thế, hình ảnh và năng lực cạnh tranh của các DN tư nhân Việt Nam.