Nữ đang phải làm việc nhiều hơn nam giới

TP - Nữ lao động phổ thông thường xuyên phải làm những công việc nặng nhọc trong môi trường độc hại, nóng, bụi, ồn; khả năng học tập, nâng cao trình độ khó khăn; điều kiện sinh hoạt thiếu thốn; thường xuyên bị xâm hại...

Thực trạng trên được các chuyên gia chỉ rõ tại hội thảo “An toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) đối với nữ lao động phổ thông” do Hội khoa học kỹ thuật ATVSLĐ Việt Nam và Viện Tài nguyên - Môi trường - Giới vì phát triển cộng đồng tổ chức, ngày 27/11. Theo kết quả khảo sát của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tại 34 doanh nghiệp có sử dụng lao động nữ, tại đây, có khoảng 56,2 phần trăm làm việc trong môi trường có tiếng ồn, rung; 55 phần trăm nóng, bụi; 24,6 phần trăm có chất độc hại; 12,9 phần trăm công việc nặng nhọc; chất lượng bữa ăn kém khiến sức khỏe giảm; điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, không an toàn. Phó Giáo sư, Tiến sĩ. Bùi Thị An - Viện trưởng Tài nguyên - Môi trường - Giới vì phát triển cộng đồng cho biết, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nữ tham gia vào lực lượng lao động cao nhất thế giới (chiếm 48,6 phần trăm lực lượng lao động cả nước) và tỷ lệ nữ (độ tuổi 15 - 60) tham gia vào hoạt động kinh tế xấp xỉ bằng nam giới. Phụ nữ phải làm việc nhiều hơn nam giới và tập trung nhiều ở các công việc phổ thông với mức lương thấp. Phụ nữ nông thôn phải làm việc khoảng 11 giờ/ngày; 302 - 339 ngày/năm với cường độ lao động lớn và môi trường làm việc không được đảm bảo. Nữ lao động phổ thông phi chính thức cũng xuất hiện ngày càng nhiều, phong phú, đa dạng. Bên cạnh các nghề cũ (đồng nát, nhặt rác...), nay đã xuất hiện thêm nhiều nghề mới (giúp việc gia đình, nuôi chăm bệnh nhân tại bệnh viện, nghề vệ sinh công nghiệp...). Theo Tiến sĩ An, nhóm nữ lao động phổ thông này đang chịu những áp lực ATVSLĐ, bị xâm hại nhưng chưa biết bấu víu vào đâu do không thuộc đoàn thể, tổ chức nào quản lý vì là lao động tự do. Tiến sĩ Nguyễn Thế Công, Phó Viện trưởng Viện Bảo hộ lao động (Tổng LĐLĐ Việt Nam) cho rằng, cần phải xác định, nữ lao động phổ thông là đối tượng cần được quan tâm, chăm sóc, bảo vệ. Cần phải gắn công tác ATVSLĐ đối với nữ lao động phổ thông vào Chương trình mục tiêu quốc gia và Cuộc vận động xây dựng nông thôn mới cũng như gắn với Chương trình xóa đói giảm nghèo của Chính Phủ. “Cơ quan chủ quản là ngành LĐ - TB&XH cần sớm xây dựng, ban hành Bộ luật về ATVSLĐ, trong đó có quy định đặc thù về nữ lao động phổ thông” - TS Công đề xuất. Thạc sĩ Hà Thị Thanh Vân (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) cũng cho rằng, cần có một công trình nghiên cứu nghiêm túc, cụ thể tất cả các khía cạnh liên quan đến ATVSLĐ đối với nữ lao động phổ thông để ban hành các quy định pháp luật sát với thực tế. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết, hiện, tại các khu công nghiệp và khu chế xuất, đa số nữ lao động phổ thông làm việc trong các lĩnh vực dệt, may, da giày (78,5 phần trăm); chế biến lương thực, thực phẩm (66,8 phần trăm); sành, sứ, thủy tinh (59,2 phần trăm). Nhìn chung, nữ lao động phổ thông chiếm tỷ lệ cao nhất trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (62,9 phần trăm); sau đó đến các doanh nghiệp tư nhân (62,6 phần trăm), doanh nghiệp nhà nước (49,1 phần trăm).