Những quyết định vô lý của huyện Trảng Bom

NDĐT - THỜI NAY - Vào thời điểm đất nước còn nhiều khó khăn, một người dân được giao đất để trồng rừng kinh tế trên khu vực quy hoạch rừng phòng hộ hồ Sông Mây. Bỏ nhiều tiền của và công sức, những vạt đất hoang, đồi trọc giờ đây đã xanh tốt cây rừng. Nhưng khi ông mất đi, những người thừa kế công sức ông để lại đã bị tước đoạt quyền và lợi ích hợp pháp của mình bởi những quyết định vô lý.

Người trồng rừng được tặng bằng khen Ngày 14-8-1986 và ngày 20-10-1992, ông Nguyễn Văn Phúc, ngụ xã Sông Trầu, huyện Thống Nhất (nay là huyện Trảng Bom, Đồng Nai) được UBND huyện giao khoảng 144 ha đất trồng rừng (phần đất trống, đồi trọc chiếm khoảng 125 ha) tại khu vực quy hoạch rừng phòng hộ hồ Sông Mây. Thời điểm đó, điều kiện kinh tế - xã hội nói chung và gia đình ông Phúc nói riêng còn nhiều khó khăn, nhưng ông đã bỏ nhiều công sức, biến đồi trọc, đất trống thành những cánh rừng. Ông Phúc được UBND tỉnh Đồng Nai tặng nhiều bằng khen, giấy khen về thành tích trồng rừng. Người dân sở tại vẫn nhớ hình ảnh một ông già thường dậy từ 4 giờ sáng, một mình lái máy cày làm việc đến tối trời mới nghỉ. Một cán bộ xã Sông Trầu cho biết, thời điểm đó, phải dũng cảm lắm mới dám nhận đất trồng rừng vì đã nhiều lần Nhà nước giao cho chính quyền huyện, xã để trồng rừng nhưng không thể thực hiện được. Năm 2002, sau khi ông Phúc qua đời, UBND huyện Trảng Bom ra quyết định thu hồi hơn 10 ha đất. Còn lại 114 ha đất gắn liền với cây trồng, tài sản, được TAND tỉnh Đồng Nai chia thừa kế cho các thành viên trong gia đình ông Phúc. Theo bản án số 47/DSST ngày 12-11-2002 của TAND tỉnh Đồng Nai: “ông Phúc sử dụng thực tế 114 ha đất, Nhà nước không có chủ trương thu hồi, vậy tạm giao QSDĐ trên cho các thừa kế, đương sự có trách nhiệm đến các cơ quan có thẩm quyền liên hệ làm thủ tục để xin cấp QSDĐ theo quy định của pháp luật”. Theo đó, tòa tạm giao cho bà Trần Thị Lành được quyền sử dụng 56,6 ha đất và được sở hữu số cây trồng trên đất. Các đồng thừa kế như bà Trần Thị Lệ được quyền sử dụng 23,3 ha đất… Sau khi được tòa phân chia, bà Lành đã chuyển nhượng cho bà Tú gần 30 ha. Trong tháng 12-2003 và tháng 1-2004, Chủ tịch UBND huyện Trảng Bom đã ký quyết định cấp Giấy CNQSDĐ (sổ đỏ) cho bà Lành, bà Tú, bà Lệ với tổng diện tích đất gần 80 ha. Sai mà không sửa Sau khi được cấp sổ đỏ, các hộ trên tiếp tục đầu tư công sức phát triển rừng, thực hiện nghĩa vụ theo đúng Luật Đất đai. Bất ngờ, ngày 30-9-2009, ông Nguyễn Sơn Hùng, Phó Chủ tịch UBND huyện Trảng Bom ký ba quyết định thu hồi “sổ đỏ” của bà Lành, bà Tú, bà Lệ vì cho rằng: “cấp sổ chưa đúng đối tượng, vượt hạn mức đất trồng rừng…”. Điều 2 của quyết định này còn nêu: “đương sự giữ nguyên hiện trạng đất đến khi lập xong thủ tục hợp đồng giao đất trồng rừng và cấp QSDĐ trồng rừng theo quy định…”, có nghĩa là ba hộ trên phải có hợp đồng thuê đất trồng rừng mới được cấp sổ đỏ. Lý do UBND huyện Trảng Bom đưa ra để thu hồi “sổ đỏ” như trên là chưa thuyết phục về mặt pháp lý, có dấu hiệu phạm luật. Bởi lẽ, về đối tượng, ông Nguyễn Văn Phúc được UBND huyện Thống Nhất (cũ) giao đất bằng quyết định hợp pháp. Sau này, bà Lành là con gái ông Phúc được thừa kế tài sản là đương nhiên. Điều này đã được bản án số 47/DSST của TAND tỉnh Đồng Nai tuyên rất cụ thể. Về lý do, UBND huyện Trảng Bom cho rằng “giao đất vượt hạn mức đất trồng rừng” để thu hồi sổ cũng không đúng. Vì tại khoản 2, Điều 6, Nghị định số 163/1999/NĐ - CP ngày 16-11-1999 của Chính phủ quy định về giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài… nêu rõ: “Hộ gia đình đang sử dụng đất lâm nghiệp vượt hạn mức quy định tại khoản 1 Điều 13 của nghị định này trước ngày 1-1-1999 được tiếp tục sử dụng và được cấp QSDĐ”. Như vậy, gia đình ông Phúc được giao đất từ năm 1986 nên dù có vượt hạn mức vẫn được cấp quyền sử dụng hợp pháp. Về lý do “…yêu cầu bổ sung thủ tục hợp đồng giao đất trồng rừng và cấp QSDĐ theo quy định…” cũng không đúng luật. Vì, theo Thông tư liên tịch hướng dẫn việc giao đất, cho thuê đất và cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Tổng cục Địa chính ngày 6-6-2000 nêu rõ tại khoản 2 Điều 10 như sau: “hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất lâm nghiệp, phần diện tích vượt hạn mức theo quy định tại khoản này được tiếp tục sử dụng, khi hết thời hạn (50 năm) sử dụng đất được giao quyền chuyển sang thuê đất lâm nghiệp…”. Căn cứ theo thông tư này thì, đất của ông Phúc đến năm 2036 mới phải làm hợp đồng thuê đất lâm nghiệp. Như vậy, cả ba lý do mà UBND huyện Trảng Bom nêu ra để thu hồi GCNQSDĐ của bà Lành, bà Tú, bà Lệ đều thiếu cơ sở pháp luật. Sai như vậy, nhưng khi các đương sự gửi đơn khiếu nại thì UBND huyện Trảng Bom lại không chịu giải quyết theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo, kể cả khi UBND tỉnh có công văn yêu cầu giải quyết và báo cáo kết quả. Trong buổi làm việc với chúng tôi, ông Doãn Đức Hùng, Phó Chủ tịch UBND huyện cho rằng không nhận được đơn của đương sự. Thực tế, kiểm tra tại phòng văn thư có nhận được nhưng không trình lên lãnh đạo vì… “quên”. Vì cái sự quên này nên nhân viên văn thư bị kiểm điểm, còn cái sự quên giải quyết đơn thư của UBND huyện Trảng Bom thì chưa thấy ai bị kiểm điểm. Ông Nguyễn Văn Chuân, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Trảng Bom giải thích còn lạ hơn, đó là huyện chỉ thu hồi GCNQSDĐ để cấp lại sổ mới cho phù hợp, nhưng những lý do vô lý và trái luật nêu ra trong các quyết định thu hồi thì ông Chuân không thể giải thích được. GIANG PHÚC