Những người giữ lửa nghề ở làng quạt giấy trăm tuổi

Giữa những ngày nắng nóng đỉnh điểm, làng quạt giấy thủ công trăm tuổi ở xứ Nghệ vẫn đìu hiu, vắng khách.

Nhiều năm nay, chỉ còn rất ít người thợ bám trụ cũng chỉ vì đau đáu với nghề.

Chắt chiu 32 công đoạn làm nên chiếc quạt

Ông Trung, bà Thu là những người cuối cùng còn làm quạt thủ công ở làng Nam

Ông Trung, bà Thu là những người cuối cùng còn làm quạt thủ công ở làng Nam

“Nghề làm quạt chỉ tranh thủ lúc rảnh rỗi, kiếm thêm đồng mua rau. Còn để nuôi cái bụng vẫn là 5 sào ruộng”, ông Lê Văn Trung (73 tuổi, ở làng Nam, xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, Nghệ An) - một trong những người cuối cùng còn theo nghề làm quạt giấy đã có tuổi đời hàng trăm năm ở nơi đây cho hay.

Nói đặng, như ngứa nghề, ông Trung cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thu (72 tuổi) lôi cưa, dao, khoan… ra giữa sân rồi cứ thế làm thoăn thoắt.

Ông cưa bà chẻ, bà khoan ông vót. Vừa làm, ông Trung vừa cho biết, quạt giấy làng Nam chia ra thành 3 loại: nhất (20 nan) nhị (15 nan), ba (10 - 12 nan). Dù là nhất, nhị hay ba thì mỗi chiếc quạt tre đều phải trải qua 32 công đoạn.

Đầu tiên, người thợ chọn những cây tre thẳng, già và có lóng dài. Để tránh co ngót, tre được phơi cho đến khi “no” nắng.

Nghề làm quạt tre thủ công ở làng Nam có hàng trăm năm nay. Trước đây ở các xóm 5, 8, 20 cũ, hầu như nhà nào cũng làm quạt giấy. Thế nhưng, cùng sự phát triển của kinh tế - xã hội, nghề làm quạt thu nhập thấp, nguyên liệu ngày một khan hiếm nên người theo nghề thưa dần. Trước đây, xã đã đưa nghề này vào kế hoạch xây dựng làng nghề truyền thống, nhưng vì ít hộ tham gia nên phải tạm dừng lại.

Ông Nguyễn Đức Chương, Phó chủ tịch UBND xã Nghi Trung

Sau đó, cưa bỏ mắt ở 2 đầu, lấy mỗi phần lóng có chiều dài đúng kích cỡ chiếc quạt. Ống tre được chẻ ra từng thanh đủ làm 1 chiếc quạt.

Người thợ khoan một lỗ nhỏ ở 1 đầu, để sau này chốt các nan lại với nhau làm tay cầm. Các nan quạt được chẻ bằng nhau, sau đó được vót đến khi thật đều, trơn và mượt là được.

Bà Thu kể, khi còn nhỏ thường thấy bố mẹ cưa, gọt sừng trâu thành những đoạn nhỏ để làm chốt quạt, rất công phu. Sau này người dân đã thay thế bằng lõi nhôm tiện dụng.

Nếu tre là “xương” của quạt thì giấy gió chính là phần “thịt”. Những tờ giấy gió được người thợ cắt vành theo hình cánh cung, sau đó đặt lên khung tre rồi dùng chiếc chổi phết một loại nước chuyên dụng lên nhằm giúp “thịt” dính liền với “xương”.

Loại nước đặc biệt này được chiết từ vỏ cây sắn quả (không phải cây sắn lấy củ). Vỏ cây sắn sau khi được bóc về bỏ vào cối giã cho nát ra, rồi đổ nước lạnh vào ngâm khoảng 2-3 ngày là có thể lấy ra dùng.

“Nhìn thì dễ nhưng không phải ai cũng quét giấy gió vào khung được. Phải thật khéo léo, tỉ mỉ, nếu không tấm giấy gió mỏng tanh sẽ bị nát hoặc rớt xuống.

Nước phết cũng có quy tắc của nó, ngâm ít ngày quá thì nhựa cây tiết ra chưa đủ, không đảm bảo sự kết dính; ngâm lâu quá, vỏ cây phân hủy gây nên mùi hôi thối, phải bỏ”, ông Trung nói.

Theo lời của ông, nguyên bản quạt có màu trắng đục, nhìn mỏng manh nên khách hàng không ưng lắm. Để khắc phục, người thợ pha một chút phèn vào nước tạo nên màu đen tím.

Sau khi quét giấy gió, quạt được mang đi phơi. Trời nắng to, chỉ tầm hơn 1 giờ là được. Lúc đó, chiếc quạt sẽ có mùi thơm ngai ngái của nước vỏ sắn khiến người dùng có cảm giác dễ chịu.

Để chiếc quạt chắc chắn hơn, người thợ quét nước sắn lần hai, rồi tiếp tục đem phơi khô. Sau cùng, họ khéo léo xếp các cánh quạt lại, cắt bỏ những phần thừa, là hoàn thiện.

Một thời vang bóng

Nghe tiếng chẻ tre cóc cóc, ông Nguyễn Kiên (65 tuổi) nhà ở cạnh đó sang tiếp chuyện. Ông cầm chiếc quạt đã xong phần “xương” lên ngắm nghía rồi kể: Chẳng ai biết nghề làm quạt giấy thủ công ở làng Nam có từ khi nào. Chỉ biết khi lớn lên đã thấy ông bà, cha mẹ đi khắp nơi chặt tre về cưa, chẻ, gọt, phết giấy…

“Trước đây, cả làng nhà nào cũng làm quạt. Già trẻ, trai gái ai ai cũng biết làm quạt, làm cả ngày lẫn đêm. Nhất là vào mùa nóng, quạt làm ra không kịp đơn hàng.

Đêm đến, thắp đèn dầu lên làm tới gần sáng. Tiếng tre chạm vào thớt gỗ cóc cóc vang khắp cả làng, vui như hội”, ông Kiên nhớ lại.

Giờ khác rồi, cùng với sự phát triển, nhiều ngành nghề khác cho thu nhập cao hơn. Người theo nghề ông cha thưa dần, cả làng nay chỉ còn mỗi vài người làm quạt giấy.

Nghe vậy, ông Trung dừng tay rồi nói thêm: “Như nhà tôi, đến tôi đã là đời thứ 3 làm quạt giấy.

Bản thân tôi từ lúc lên 6 tuổi đã biết phụ giúp bố mẹ một số công đoạn, lên 10 đã tự tay hoàn thiện 1 chiếc quạt.

Thời chưa có điện lưới, nghề làm quạt nuôi sống cả làng, nhà nào cũng làm. Tiền đong gạo, mua thức ăn, nuôi 6 người con ăn học, trưởng thành cũng nhờ cây quạt.

Mong giữ được nghề

Ông Trung, bà Thu tranh thủ buổi trưa để làm quạt

Hàng chục năm nay, quạt giấy ở làng Nam không còn đắt khách như xưa, khiến nhiều người bỏ nghề làm quạt. Như gia đình ông Trung, cả 6 con nhưng người thì đi miền Nam làm ăn, người đi nước ngoài, người theo nghề gốm đá, đi xây...

Chỉ vợ chồng ông Trung vẫn quyết theo nghề quạt bởi nói như ông Trung “nghề này cũng phù hợp với tuổi già, còn sức thì còn làm để giữ nghề…”.

Người làm nghề chuyên nghiệp và thành thạo như vợ chồng ông Trung 1 ngày làm hết sức được khoảng 30 cái quạt phết hồ hoàn chỉnh, trừ 200 nghìn đồng tiền vốn, còn lãi khoảng 150 nghìn đồng.

Vì vậy, làm quạt trở thành nghề phụ của gia đình, nhưng chưa bao giờ ông Trung muốn bỏ nghề. Ông vẫn hy vọng, sẽ duy trì và giữ gìn được nghề làm quạt cho các thế hệ mai sau.

Quạt làng Nam bền, đẹp nên không chỉ bán trong tỉnh mà còn được mang đi Hà Nội, Quảng Bình, TP.HCM… nhưng khách mua nhiều nhất vẫn là ở Diễn Châu.

Họ vào làng ăn nằm nhiều ngày, gom đủ hàng rồi đi lên các huyện miền núi Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong… bán lại, thậm chí là xuất khẩu sang Lào.

Ông Trung khẳng định, hiện nay không thiếu người tìm mua quạt làng Nam. Mới đây, có khách hàng ở Quảng Bình đặt cọc trước vợ chồng ông 10 triệu đồng.

Thế nhưng, nguyên liệu giấy gió người dân thường mua ở Nghi Phong (Nghi Lộc) ngày càng khan hiếm.

Bà Thu kể, vừa rồi Bảo tàng Nghệ An có mời ông bà vào làm mẫu toàn bộ quy trình từ chọn nguyên liệu cho đến khi hoàn thành 1 chiếc quạt tre để dạy cho các cháu học sinh tiểu học ở TP Vinh.

“Các cháu giỏi lắm, chỉ cần nhìn 1 lượt là tự làm được ngay. Vợ chồng tôi ở trong đó tận 3 ngày liền. Chỉ mong Nhà nước có nhiều chương trình như thế để nghề ông cha không bị mất đi”, bà chia sẻ.

Sỹ Hòa

Nguồn Giao Thông: https://www.baogiaothong.vn/nhung-nguoi-giu-lua-nghe-o-lang-quat-giay-tram-tuoi-d592147.html