Những người chiến thắng

Khi bị địch đưa về Long An, sau hai lần tìm cách vượt ngục nhưng không thành, ông Tăng Đình Thích bị đưa ra nhà lao Cây Dừa, đảo Phú Quốc.

Đây cũng là nơi giam cầm hơn 30.000 chiến sĩ cách mạng.

Phú Quốc, một thời máu lửa

>> Kỳ 1: Gương sáng Tăng Đình Thích
>> Kỳ 2: Sẵn sàng hy sinh bảo vệ thương binh

(Đất Việt) Tại nhà lao Cây Dừa, ông Thích mang số tù 2517 và tên tù là Đặng Trung Hiếu. Bên cạnh ông là những chiến sĩ cộng sản kiên trung, những người đã dìu dắt giúp đỡ ông học chính trị, văn hóa và làm thơ.

Chết vinh chứ không sống nhục

Năm 2009, Điện ảnh Quân đội đã làm bộ phim dự giải Cánh diều vàng "Ký ức không thể phai mờ" về các chiến sỹ bất khuất trong ngục tù Phú Quốc. Các cực hình tra tấn đến tận cùng của sự man rợ bằng các dụng cụ như thời trung cổ đến các công cụ tối tân hiện đại Mỹ: Mổ bụng, tháo khớp chân tay, đóng đinh vào đầu, vào người và các ngón chân, ngón tay, rút móng chân tay, dùng kìm, đục sắt bẻ răng, cho vào thùng phuy rồi đập ở bên ngoài cho người ngồi trong đó hộc máu mồm, máu mũi, dìm vào chảo nước sôi mà chúng gọi là "luộc tôm"… được tái hiện, khiến người xem rùng mình.

Trong nhà lao Cây Dừa, không có ngày nào không có các chiến sĩ ta bị chúng tra tấn và giết hại. Chúng có các phòng biệt giam mà ai đã bị đưa vào đó sẽ mất hết cảm giác về không gian và thời gian.

Nhưng các chiến sỹ cách mạng đanh thép, "Thà chịu chết không cúi đầu sống nhục/Những người anh không chùn bước đấu tranh/Nhịp tim cuối, không lời van khuất phục/Mỗi nhịp hơi thêm một đợt tấn công". Kẻ địch càng tàn bạo, các chiến sĩ trong lao tù càng sống đẹp hơn, bất khuất hơn, sẵn sàng chấp nhận hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Nhiều đồng chí tham gia đội tự nguyện mổ bụng để đấu tranh làm kẻ thù khiếp sợ.

"Trong tù, chúng tôi đánh địch bằng tay không, vũ khí là ý chí bất khuất, kiên trung cùng với những tiếng hát và câu thơ. Chúng tôi làm thơ để động viên nhau, để ca ngợi khí phách của đồng chí, đồng đội bất khuất trước mọi cực hình tra tấn đến tận cùng man rợ của địch và còn là để làm công tác địch vận", ông Thích hồi tưởng.

Hàng nghìn chiến sỹ cách mạng đã nằm lại tại Phú Quốc. Ảnh tư liệu

Bộ nhạc cụ trong ngục tối

Vốn là người có chút "máu văn nghệ", có thời từng tham gia văn công nghiệp dư của Binh trạm 41, ông Thích không thể ngồi yên giữa bốn bức tường xám xịt. Ngoài học văn hóa và được anh em bạn tù hết sức khích lệ và giúp đỡ, ông mày mò, chế tác một số nhạc cụ như nhị, sáo, đàn bầu, trống, từ những vật liệu thô mộc.

Đầu tiên là cây đàn nhị, ông lấy vỏ lon nước bỏ đi của bọn quân cảnh, lấy da cá cóc bịt chặt lại làm ống nhị, từ khúc gỗ tràm xin của bếp ăn ông tỉ mẩn đẽo gọt cho trơn mịn thành thanh gỗ nhỏ bằng ngón tay làm cần nhị. Dây nhị bằng dây điện cắt ngoài hàng rào, cử nhị làm từ những sợi tuốt từ bao xác rắn đựng cát của địch. Cây nhị ấy đã thấm đẫm mồ hôi và máu của đồng đội, khi cùng ông tìm kiếm nguyên liệu và canh chừng bọn giám thị cho ông làm.

Có lần, khi ông đang đẽo gọt cần đàn, tên giám thị vào bắt gặp. Chúng vu cho ông làm gậy để đánh lại giám thị, nên ông bị chúng đánh thừa sống, thiếu chết và giam vào chuồng cọp suốt 3 ngày đêm. Cả trại C4 cũng bị đem phơi nắng, da người nào cũng tróc ra từng mảng.

Tuy vậy, anh em vẫn khích lệ ông tiếp tục sáng tạo ra nhiều nhạc cụ khác, như làm sáo bằng mảnh tôn được gò cuộn tròn lại, đàn bầu làm từ tấm giát giường. Ông còn gò tôn làm 3 cái trống và khi cần lật ngửa lên là trở thành 3 cái chậu đựng nước. "Khi đã có đủ cả đàn sáo, trống, nhị, các buổi ngâm thơ, diễn chèo của anh em tù rôm rả hẳn lên", ông Thích hào hứng nhớ lại.

Xúc động khi vào thăm bảo tàng nhà tù Phú Quốc. Ảnh tư liệu

Tháng 7/1972, ông bị chuyển sang Phân khu 9, được ở cùng ông Võ Sỹ Thừa (sau này là Nghệ sĩ nhân dân) và nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ. Ông sáng tạo ra nhiều bộ nhạc cụ khác để phục vụ cho các vở tuồng do ông Võ Sĩ Thừa tổ chức biểu diễn. Tiếng đàn, tiếng sáo của ông không chỉ củng cố tinh thần và nghị lực cho anh em tù mà còn tác động đến một số lính quân cảnh, khiến họ đã kín đáo giúp đỡ tù binh.

Cảm phục tinh thần lạc quan của anh em tù, một số binh lính lén gửi thuốc men, báo cho tù nhân dùng, thậm chí còn cung cấp thông tin nội bộ cho anh em tù biết để có đối sách đấu tranh thích hợp. Ngoài làm nhạc cụ, ông còn học thuộc lòng 3.254 câu Kiều, học thơ Bác Hồ, thơ Tố Hữu và của các bậc tiền bối cách mạng khác. Những vốn liếng quí giá ban đầu đó đã giúp ông biết làm thơ để đấu tranh với địch. Những vần thơ được làm khi cận kề cái chết nhưng vẫn lạc quan yêu đời, thật khảng khái, vững tin vào ngày mai chiến thắng: "Đế quốc tù ta ta chẳng tù/Ta còn khối óc ta không lo".

Chiến tranh đã lùi về quá khứ, đồng đội ông đều đã lên chức ông, chức bà, nhưng ký ức về những năm tháng hào hùng của thời trai trẻ, một thời sống trong mưa bom, bão đạn, trong hang hùm, miệng sói thì không thể nào quên.

Những con người kiên trung bất khuất, vô cùng gan góc trước mọi cực hình tra tấn của kẻ thù và trên người còn mang đầy thương tật ấy, mỗi dịp gặp mặt, lại ôm nhau mà khóc trong niềm vui chiến thắng, chỉ cho nhau xem các vết thương kẻ thù đã để lại trên người họ sau những lần tra tấn, lại đọc thơ cho nhau nghe, lại cùng nhau hát vang những bài ca của một thời máu lửa và vượt lên tất cả là những câu thơ, lời ca nhớ về đồng đội và niềm tin yêu cuộc sống tươi đẹp.

Đồng Tâm (ghi theo lời kể lời kể của ông Tăng Đình Thích, cựu tù Phú Quốc)