Những đôi chân vạn dặm ngày ấy

QĐND - 12 năm trôi qua, hơn 400 nữ cựu quân nhân Sư đoàn 2 (Quân khu 5) mới có dịp gặp lại nhau ở Nhà văn hóa Quân khu 5 kể từ sau lần gặp đầu tiên ở Gia Lai. Họ ôm chầm lấy nhau, cười ra nước mắt. Những gương mặt hằn vết chân chim ngỡ như trẻ lại, bồi hồi nhớ về một thời đạn lửa. Trong số họ nhiều người có mặt từ những ngày đầu thành lập đơn vị, vì thế kỷ niệm 45 năm truyền thống Sư đoàn 2 (20-10-1965/20-10-2010) cũng là dịp những nữ cựu quân nhân tự hào đánh dấu hành trình đến với sư đoàn anh hùng của mình.

Trung tướng Nguyễn Trung Thu, Phó tổng tham mưu trưởng, Thiếu tướng Lê Chiêm, Tư lệnh Quân khu 5 có mặt từ rất sớm, ân cần hỏi thăm các chị. Cả hai vị tướng đều từng là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 nên họ hiểu hơn ai hết những cống hiến góp phần làm nên huyền thoại sư đoàn của các cựu nữ quân nhân. "Chiến tranh không có gương mặt đàn bà", nhưng ở Sư đoàn 2 ngày ấy không thể thiếu những người phụ nữ. Họ là đội quân chủ lực vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm từ căn cứ ra phía trước và vận chuyển thương binh, hàng hóa từ phía trước về phía sau. Ngoài nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, họ còn trực tiếp chiến đấu đánh địch bảo vệ hàng hóa, bảo vệ đường vận tải, nuôi dưỡng thương binh, mở đường, làm nhà ở, kho tàng, tăng gia sản xuất… Những đôi chân mảnh mai của họ là những đôi hài vạn dặm đưa tiền tuyến về gần với hậu phương. Chị Nguyễn Thị Cập, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 3 vận tải, đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân, “bị” vây quanh bởi rất nhiều đồng đội. Chị nói mà như khóc: “Thương lắm em ơi. Đơn vị chị lúc đông nhất lên tới cả trăm người. Nhiều em mới lớn, lên căn cứ các chú còn phải cõng qua suối, tối ngủ nhớ mẹ khóc hoài. Vậy mà chỉ vài tháng sau, đã vác băng băng 50-60kg hàng ra chiến trường. Mình nhớ hết từng đứa. Vậy mà bây giờ rơi rụng nhiều…”. Quay sang chị Đoàn Thị Anh, nguyên Trung đội phó, chị Cập hỏi: “Em có còn nhớ trận Cống Vôi không?”. Chị Anh giàn giụa nước mắt: “Sao mà quên được hả chị? Lần đó, đại đội mình đi phục vụ trận đánh ở Phước Lập, Tiên Phước, trên đường đi khiêng thương binh đến Cống Vôi thì bị địch ném bom. 5 chị hy sinh, 3 chị bị thương, trong đó có Trung đội trưởng Vinh, Tiểu đội trưởng Mai. Tội nhất là chị Mai, khiêng về đến trạm thì đuối. Trước khi mất còn chỉ chiếc khăn và đôi dép, dặn chị em giữ lấy mà dùng, đừng chôn theo uổng lắm. Nghe lời, bọn em giữ lại. Vậy mà đến tối, thấy thương chị ấy quá, chúng em lại lặng lẽ đem khăn và dép để bên phần mộ”. Chị Trần Thị Hòa quê Bình Đào, Thăng Bình, Quảng Nam, 10 năm ở Đại đội 19, đến bây giờ vẫn bùi ngùi khi nhớ về trận đánh diễn ra tại cao điểm số 2 trên địa bàn Quảng Ngãi. “Bộ đội ở đâu, chúng tôi ở đó. Vậy mà trận này, suốt 3 ngày địch ném bom, chúng tôi không thể nào khiêng thương binh ra được. Ai cũng khóc khi nghĩ đến đồng đội khắc khoải chờ mình…”. Kỷ niệm với chị Trần Thị Minh Tân, chiến sĩ Đại đội 33 là lần đi phục vụ chiến dịch ở Trà My về, đến sông Hai Cửa thì gặp anh bộ đội (sau này biết tên là Nguyễn Văn Sơn quê Hải Phòng) sốt mê man. Chị cõng anh vượt qua không biết bao nhiêu núi cao, suối sâu đưa về điều trị ở sông Nước Y. Cựu chiến binh Đặng Công Bá, nguyên cán bộ Phòng Hậu cần Sư đoàn 2 hôm nay cũng đến rất sớm để gặp các chị “cho đỡ nhớ”. Anh thuộc vanh vách tên từng người, dẫu bây giờ các cô gái tươi trẻ ngày nào đã là bà nội, bà ngoại. Giọng anh đầy yêu thương và mến phục: “Các cô lúc đó khổ lắm. Áo quần chủ yếu là vải tám, mỗi năm hai bộ, vá chằng vá đụp gọi vui là cánh chụp cánh xòe. Mùa mưa, các cô dành ni-lon che hàng, còn người thì ướt sũng, tối kiếm cây lá quấn quanh, quần áo hong vội trên lửa cho kịp khô ngày mai đi tiếp. Vậy mà gặp tôi, các cô thường không xin quần áo mà chỉ xin dép để đi chiến trường. Đôi dép cao su ngày ấy quý lắm. Thời điểm ác liệt 1969-1970, địch phong tỏa dữ, không xuống dưới đồng bào được, gạo không có, ở tuổi bẻ gãy sừng trâu mà bữa ăn chủ yếu là củ sắn, củ mài, môn thục, môn dóc. Ăn uống thiếu thốn lại khiêng vác nặng, có chị không còn là phụ nữ nữa, cứ tháng nào như tháng nấy, chẳng khác đàn ông…”. Tuổi xuân gửi lại chiến trường, nhiều nữ quân nhân Sư đoàn 2 sau khi hoàn thành nhiệm vụ trở về quê hương mang di chứng chất độc da cam; có người vĩnh viễn không được làm vợ, làm mẹ, lầm lũi vào ra đơn chiếc. Số tiền phụ cấp và chế độ ít ỏi không đủ để nhiều chị nuôi sống gia đình và chữa bệnh. Nhiều chị phải làm thuê, làm mướn, hoặc sống nhờ vào người thân. Nhiều chị hoàn cảnh khó khăn đến mức Đại tá Lê Quang Trình, Phó chính ủy Sư đoàn trong chuyến đi khảo sát mới đây cho rằng phải có sự chung tay của cộng đồng mới có thể giúp các chị có được cuộc sống ổn định, xứng đáng với sự hy sinh của họ. Với tình nghĩa đó, chỉ huy Sư đoàn đã vận động 18 doanh nghiệp và các cơ quan, đơn vị trên địa bàn hỗ trợ giúp các chị với tổng số tiền 662 triệu đồng, trong đó Bộ tư lệnh Quân khu 5 ủng hộ 150 triệu đồng. Tại buổi gặp mặt, 4 chị khó khăn nhất được tặng mỗi người 15 triệu đồng; 41 chị được tặng mỗi chị 3 triệu đồng; còn lại đều có quà, tiền trị giá gần 1 triệu đồng. Sư đoàn cũng đã phát phiếu trưng cầu ý kiến để các chị đề xuất những khó khăn hay vướng mắc nhằm tiếp tục tham mưu cho các cơ quan chức năng giải quyết thỏa đáng chế độ. Sáng kiến này thực sự làm ấm lòng những người chịu quá nhiều thiệt thòi suốt mấy chục năm qua. Nước mắt lại rơi trên hàng trăm gương mặt khắc khổ của các nữ cựu quân nhân Sư đoàn 2. Những giọt long lanh như ngọc sáng ngời… Bài và ảnh: Hồng Vân