Nguy cơ 'Bom nợ' toàn cầu: Bẫy nợ ở châu Á

Hơn 20 năm kể từ cuộc khủng hoảng nợ Đông Á (1997), và hơn 10 năm kể từ khủng hoảng tài chính thế giới (2007), tổng số nợ toàn cầu đã chạm mức 247.000 tỷ USD, tương đương 318% GDP của tất cả các nước trên thế giới.

Đây là số liệu báo cáo của Viện Tài chính quốc tế (IIF) công bố hồi giữa tháng 7.

So với các nước Tây Âu hoặc Bắc Mỹ, mức nợ của các nước châu Á vẫn còn tương đối ít hơn. Tuy nhiên, với sự chậm lại của Trung Quốc - nền kinh tế lớn nhất châu lục, và việc Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED) tiếp tục xu hướng siết chặt lãi suất, quả bom nợ ở châu Á ngày càng khó kiểm soát.

3 “chúa Chổm” Đông Bắc Á
Hoạt động vay mượn tràn lan diễn ra khắp các công ty, ngân hàng, chính phủ và hộ gia đình, tạo ra bong bóng giá khắp mọi nơi, từ giá thép tại Thượng Hải (Trung Quốc) đến giá nhà cửa tại Sydney (Australia). Khi FED nâng lãi suất, tình trạng nợ nần của các nước châu Á càng đáng lo ngại. Hãng xếp hạng tín dụng S&P Global ước tính trong khoảng 1.000 tỷ USD nợ của các doanh nghiệp châu Á đáo hạn vào năm 2021, có đến 63% là vay bằng USD và 7% vay bằng EUR.

Ước tính tỷ lệ nợ công của Việt Nam so với GDP đến hết tháng 4-2018 khoảng 55,9%. Trong đó, nợ chính phủ so với GDP khoảng 47,5%; nợ được bảo lãnh chính phủ so với GDP khoảng 7,9%; nợ chính quyền địa phương so với GDP khoảng 0,5%. Đáng chú ý, chi tiêu công của Việt Nam tiếp tục tăng một cách đáng lo ngại.

Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB)

Đáng quan ngại nhất là Trung Quốc. Theo IIF, trong 4 quý tính đến quý I-2018, tổng nợ ở Trung Quốc tăng khoảng 2.000 tỷ USD lên hơn 32.700 tỷ USD, đạt khoảng 258% GDP năm 2016 so với 158% năm 2005. Hầu hết việc vay mượn đến từ các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp quốc doanh vốn vay nợ rất nhiều và được ví là các công ty “xác ướp”. Trước tình trạng này, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã khuyến nghị Trung Quốc cần giải quyết khẩn cấp vấn đề nợ chồng chất của doanh nghiệp. Thêm vào đó là sự vay mượn của chính quyền địa phương, bóng ma u ám của những “ngân hàng ngầm” và các khoản vay ngoại bảng. Đã có rất nhiều dấu hiệu cảnh báo sớm về vấn đề này, như tình trạng gia tăng trái phiếu doanh nghiệp không được trả nợ đúng hạn, trái phiếu chính quyền địa phương bị giảm xếp hạng tín dụng lần đầu tiên vào năm 2017…

Dù vậy, Trung Quốc cũng được cho là chủ nợ đang ngày càng lớn của các nước châu Á-Thái Bình Dương. Trong khoảng 10 năm tính tới năm 2016, Trung Quốc đã cho các quốc gia khu vực Thái Bình Dương vay 2,2 tỷ USD. Dù các khoản tiền này được chuyển dưới danh nghĩa quà tặng, song tổ chức Lowy Institute (Australia) cho biết đây là những khoản vay ưu đãi với lãi suất thấp. Các chuyên gia cho rằng, Trung Quốc sẽ buộc các quốc gia nhận tiền vay xây các công trình cơ sở hạ tầng và chọn thuê các nhà thầu của Bắc Kinh.

Theo báo cáo được công bố ngày 14-5-2018 của một cơ quan nghiên cứu độc lập dành cho Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Bắc Kinh cho vay hàng tỷ USD để kéo hàng chục nước nhỏ ở châu Á-Thái Bình Dương, những nước nghèo không khả năng chi trả, vào quỹ đạo phục vụ chiến lược kinh tế và quân sự của Trung Quốc trong 30 năm tới.

Ảnh minh họa.

Có quy mô nền kinh tế nhỏ hơn Trung Quốc, nhưng Nhật Bản là một trong những quốc gia nợ nần nhiều nhất trên thế giới, với tổng gánh nặng nợ của chính phủ lớn gấp 2,5 lần GDP. Mục tiêu đạt thặng dư ngân sách vào năm 2020 - được coi là bước đầu tiên để giảm việc gia tăng nợ quốc gia - chính phủ Nhật Bản đặt ra đến thời điểm này là không khả thi.

Tuy nhiên, Tokyo có những khoản đầu tư lớn ngoài nước và có nhiều tài sản trong nước, giúp giảm gánh nặng nợ. Thêm vào đó, hầu hết khoản vay của doanh nghiệp cũng như toàn bộ khoản vay của Chính phủ là bằng đồng yen Nhật, và phần lớn trái phiếu chính phủ được nắm giữ bởi những nhà đầu tư trong nước, vì vậy rủi ro tháo chạy vốn khỏi Nhật Bản không cao.

Dù không đáng ngại như Trung Quốc và Nhật Bản, nhưng Hàn Quốc đang phải đối mặt với những hệ quả sau nhiều năm duy trì lãi suất ở mức thấp và sự bùng nổ của ngành bất động sản. Nợ của các hộ gia đình ở mức kỷ lục 1.344,3 tỷ won (1.200 tỷ USD), đang khiến gánh nặng trả nợ ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động tiêu dùng.

Các quan chức Hàn Quốc lo ngại các hộ gia đình với thu nhập thấp sẽ “quỵt” nợ khi động thái thắt chặt chính sách tiền tệ của FED làm tăng lãi suất cho vay trong nước. Hàn Quốc là một trong những nước có tỷ lệ nợ cao nhất trong nhóm các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), với tỷ lệ nợ của hộ gia đình trên thu nhập 169% năm 2015 so với mức trung bình 129%.

Australia và Ấn Độ
Tỷ lệ nợ trên thu nhập của Australia là 189%, trong đó hầu hết là các khoản cho vay mua nhà. Năm 2016, giá trị của các khoản cho vay mua nhà đã tăng 6,5%, trong khi thu nhập hộ gia đình chỉ tăng 3%. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng thu nhập ở mức thấp kỷ lục và tốc độ tăng trưởng của chỉ số giá tiêu dùng ở mức thấp, đồng nghĩa với việc người dân nước này không thể tận dụng lạm phát để làm giảm gánh nặng nợ như họ đã làm trong quá khứ.

“Tốc độ tăng trưởng thu nhập thấp đang khiến một số hộ gia đình gặp khó khăn trong việc trả nợ. Đối với nhiều người, sự cộng hưởng của mức nợ cao và thu nhập thấp là vấn đề đáng lo ngại” - Thống đốc Ngân hàng Trung ương Australi Philip Lowe, phát biểu tại Melbourne ngày 4-4-2017. Nhu cầu vay mượn đến từ việc người dân đua nhau vay tiền để mua nhà tại Sydney tăng 105% từ năm 2009 và Melbourne nơi giá nhà cũng đang tăng chóng mặt.

Mặc dù quy mô nợ nhỏ hơn một vài quốc gia châu Á khác, có nhiều vấn đề nợ móc xích với nhau tại Ấn Độ. Song tỷ lệ nợ của Chính phủ Ấn Độ trên GDP gần 70%, cao hơn nhiều so với những quốc gia có cùng xếp hạng BBB theo báo cáo tháng 4-2017 của hãng xếp hạng tín dụng Fitch. Bên cạnh đó, nợ doanh nghiệp đang tăng kéo theo sự gia tăng nợ xấu gây rủi ro cho hệ thống ngân hàng.

Để giải quyết những khoản nợ xấu này, Chính phủ Ấn Độ phải dùng tiền đóng thuế của người dân để tái cấp vốn cho các ngân hàng quốc doanh, nhưng nguồn vốn bổ sung này thấp hơn nhiều so với mức cần thiết. Fitch ước lượng yêu cầu tái cấp vốn đối với Ấn Độ 90 tỷ USD vào năm 2019, nhưng chính phủ mới cam kết được 10 tỷ USD từ ngân sách. Với nguồn thu thuế eo hẹp, nước này sẽ phải tài trợ biện pháp tái cấp vốn trên bằng việc vay mượn, đồng nghĩa làm tăng thêm gánh nợ của chính phủ.

Đông Nam Á
Các nước Đông Nam Á có mức nợ tương đối thấp so với Đông Bắc Á nói chung. Tuy nhiên, đòn bẩy nợ đã tăng trong những năm gần đây với nợ của doanh nghiệp và hộ gia đình đang trở thành mối lo chính tại Thái Lan và Malaysia. Theo báo cáo của Ngân hàng Standard Chartered về lịch sử của đòn bẩy nợ tại châu Á, từ tháng 6-2008 đến tháng 6-2016, tổng dư nợ của Malaysia đã tăng tới mức 240% GDP từ mức chỉ 173%.

Đây là một trong những mức tăng lớn nhất của các nước châu Á trong giai đoạn 8 năm này, khiến Malaysia dù vẫn là một quốc gia có thu nhập trung bình nhưng có mức nợ tương đương với các nước thu nhập cao như Australia, Anh và Italia.

Singapore có mức nợ lớn nhất Đông Nam Á. Tuy nhiên đây lại là một trong những nước giàu nhất thế giới với tổng tài sản nắm giữ bởi hộ gia đình khoảng 1.100 tỷ USD. Philippines và Indonesia không bị xoáy vào dòng vay mượn “thả cửa” của khu vực châu Á, một phần do hệ thống ngân hàng tại 2 nước này tương đối kém phát triển khiến việc vay mượn của người dân gặp nhiều khó khăn.

Ngoài ra, Indonesia có kỷ luật tài khóa chặt chẽ - hệ quả của các khủng hoảng trong quá khứ giúp cho thâm hụt ngân sách duy trì ở mức 3% GDP và tỷ lệ nợ của chính phủ duy trì ở mức 60% GDP.

(còn tiếp)

Vinh Trang