Nghỉ hưu khi có 15 năm làm nghề nặng nhọc, độc hại

Hỏi: Trường hợp lao động đóng BHXH được hơn năm, trong đó có trên 15 năm làm công việc nặng nhọc, độc hại thì có được nghỉ hưu trước tuổi không? Nếu được thì cách tính lương hưu, trợ cấp BHXH thế nào? Nguyễn Văn Minh (Việt Trì, Phú Thọ)

Nghỉ hưu khi có 15 năm làm nghề nặng nhọc, độc hại - Ảnh 1

Trả lời:

Điều 54 Luật BHXH năm 2014 quy định, người lao động (NLĐ) nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành thì được hưởng lương hưu.

Từ ngày Luật BHXH có hiệu lực thi hành (ngày 1-1-2016) cho đến trước ngày 1-1-2018, mức lương hưu hằng tháng của NLĐ đủ điều kiện được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH tương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%. Để hưởng tối đa 75% thì nam phải đóng BHXH đủ 30 năm.

NLĐ có thời gian đóng BHXH cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75% thì khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.

Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng BHXH cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%, cứ mỗi năm đóng BHXH thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.

Nghỉ hưu vào cuối năm 2018, cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu thế nào?

Năm nay người thân của tôi (là nam giới) 58 tuổi, đã đóng BHXH bắt buộc được 25 năm, đã chốt sổ để đến cuối năm 2018 hưởng chế độ hưu trí. Vậy đến cuối năm 2018, tỷ lệ hưởng lương hưu của người thân tôi được tính thế nào? Cách tính bình quân để hưởng lương hưu thế nào?

Hoàng Hải Yến (Ninh Bình)

Trả lời:

Về tỷ lệ hưởng lương hưu, theo quy định tại Khoản 2 Điều 56 Luật BHXH năm 2014, từ ngày 1-1-2018, mức lương hưu hằng tháng của NLĐ đủ điều kiện quy định được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH tương ứng với số năm đóng BHXH như sau: Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm; sau đó cứ thêm mỗi năm,
NLĐ được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%.

Về cách tính bình quân để hưởng lương hưu:

Theo Điều 9 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP
ngày 11-11-2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc: Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần quy định tại Điều 62 của Luật BHXH được quy định như sau:

1. NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng của số năm đóng BHXH trước khi nghỉ hưu như sau:

a) Bắt đầu tham gia BHXH trước ngày 1-1-1995 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu;

b) Bắt đầu tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 1-1-1995 đến ngày 31-12-2000 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 6 năm cuối trước khi nghỉ hưu;

c) Bắt đầu tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 1-1-2001 đến ngày 31-12-2006 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 8 năm cuối trước khi nghỉ hưu;

d) Bắt đầu tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 1-1-2007 đến ngày 31-12-2015 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 10 năm cuối trước khi nghỉ hưu;

đ) Bắt đầu tham gia BHXH từ ngày 1-1-2016 đến ngày 31-12-2019 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 15 năm cuối trước khi nghỉ hưu;

e) Bắt đầu tham gia BHXH từ ngày 1-1-2020 đến ngày 31-12-2024 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 20 năm cuối trước khi nghỉ hưu;

g) Bắt đầu tham gia BHXH từ ngày 1-1-2025 trở đi thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của toàn bộ thời gian.

2. NLĐ có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của toàn bộ thời gian.

3. NLĐ vừa có thời gian đóng BHXH thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH chung của các thời gian, trong đó thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH theo quy định tại Khoản 1 Điều này căn cứ vào thời điểm bắt đầu tham gia BHXH bắt buộc. Trường hợp chưa đủ số năm quy định tại Khoản 1 Điều này thì tính bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng BHXH.