Nếu sư Toàn lấy tiền công đức mua đất đứng tên cá nhân thì phải trả lại nhà chùa

Luật sư Đặng Văn Cường cho rằng, đối với tài sản mà người dân cúng dường, công đức, dưới góc độ pháp lý là tặng cho tài sản thì phải làm rõ là tặng cho cá nhân sư thầy Thích Thanh Toàn hay tặng cho nhà chùa thì mới có căn cứ xác định.

Ngày 7/10, Giáo hội Phật giáo (GHPH) tỉnh Vĩnh Phúc ra thông báo về việc chấp thuận tờ trình xin xả giới, hoàn tục của Đại đức Thích Thanh Toàn.

Trước đó, nhà sư từng bị tố gạ tình nữ phóng viên đã có tờ trình xin xả giới, hoàn tục. Đáng chú ý, bên cạnh việc xin xả giới, sư Toàn cũng thỉnh nguyện xin được giữ lại những tài sản như trang trại, đất đai, xe cộ mang tên chủ sở hữu là thể danh của mình. Trong đó, bao gồm khối tài sản cá nhân lên tới 200-300 tỷ đồng và trang trại rộng hàng nghìn mét vuông.

Việc nhà sư Thích Thanh Toàn muốn giữ lại khối tài sản lớn gây ra nhiều ý kiến trái chiều trong dư luận về quyền sở hữu tài sản của người xuất gia tu hành. Để làm rõ hơn vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với thạc sĩ, luật sư Đặng Văn Cường - Trưởng VPLS Chính Pháp, Đoàn Luật sư TP Hà Nội.

Luật sư Đặng Văn Cường

Theo luật sư Cường, hiện nay, việc xác lập quyền sở hữu tài sản được bộ luật dân sự quy định rất cụ thể tại Điều 221 Bộ luật dân sự 2015. Theo đó, quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong trường hợp sau đây:

- Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, do hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.

- Được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác.

- Thu hoa lợi, lợi tức.

- Được thừa kế.

- Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu; tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy; tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên; gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên.

- Chiếm hữu, được lợi về tài sản theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.

- Trường hợp khác do luật quy định. Như vậy, pháp luật đã quy định rất rõ đối với các trường hợp cá nhân, tổ chức được xác lập quyền sở hữu tài sản và có quyền định đoạt đối với tài sản đó. Còn hiện nay, pháp luật không hạn chế quyền tài sản đối với những thầy tu hoặc những người theo tín ngưỡng tôn giáo khác.

Tuy nhiên, đối với tài sản của nhà sư Thích Thanh Toàn trong trường hợp này cần làm rõ căn cứ xác lập quyền sở hữu có phải do hoạt động lao động có thu nhập hay không, thu nhập đó có hợp pháp hay không hoặc từ đâu mà có, có thuộc trường hợp pháp luật quy định hay không?

Đối với tài sản mà người dân cúng dường, công đức, dưới góc độ pháp lý là tặng cho tài sản thì phải làm rõ là tặng cho cá nhân sư thầy hay tặng cho nhà chùa thì mới có căn cứ xác định.

Trong trường hợp khi người dân cúng cho chùa sẽ gửi nơi gọi là hòm công đức, khi đó có thể xác định là tài sản của chùa. Hoặc những giao dịch chuyển nhượng hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ nguồn tiền từ ngân quỹ của chùa thì đó là tài sản của nhà chùa. Mọi hoạt động giao dịch như trên sẽ phải chịu sự giám sát và cho phép của Ban trị sự Giáo hội phật giáo Việt Nam.

Theo luật sư Cường nhận định, hiện nay, nhiều người lợi dụng tôn giáo để trục lợi, thu lợi bất chính, do đó Giáo hội Việt nam cần phải có sự giám sát chặt chẽ tài chính tại các cơ sở tôn giáo, tránh việc lợi dụng lòng tín ngưỡng của người dân để trục lợi, kinh doanh tôn giáo.

Sư thầy Thích Thanh Toàn. (Ảnh: Phatgiao.org.vn)

Trường hợp, nhà sư muốn chứng minh tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân mình thì phải chứng minh được nguồn gốc tài sản đó là được tặng cho, thừa kế riêng, hoặc tự mình lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp mà có.

Đối với diện tích đất mà sư Toàn mua của người dân thì đây là đất nông nghiệp trồng lúa nước, việc chuyển nhượng loại đất này chỉ được thực hiện giữa các hộ sản xuất nông nghiệp cùng địa phương và phải được cấp chính quyền cho phép, phải đăng ký sang tên theo quy định pháp luật.

Việc chuyển nhượng của sư Thích Thanh Toàn với một số hộ dân không thực hiện theo đúng thủ tục luật định nên sẽ không được pháp luật thừa nhận. Trong trường hợp người sử dụng đất đã sử dụng đất sai mục đích, vi phạm các quy định của luật đất đai thì có thể bị thu hồi đất theo quy định.

Bởi vậy, căn cứ vào các quy định của pháp luật về dân sự, luật đất đai thì chưa đủ cơ sở để xác định diện tích đất nông nghiệp nêu trên là tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của sư Toàn.

Trong trường hợp diện tích đất đó bị thu hồi hoặc hợp đồng bị hủy bỏ thì sư Toàn có quyền khởi kiện người chuyển nhượng đất để được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Trong trường hợp này thì sư Toàn chỉ có thể yêu cầu những hộ đã nhận tiền trả lại số tiền đó cho sư Toàn theo quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu.

Đối với các công trình xây dựng trái phép, vi phạm trật tự xây dựng, vi phạm quy định về sử dụng đất đai thì ngoài việc xử phạt hành chính, chính quyền địa phương cũng có quyền yêu cầu sư Toàn và nhà chùa phải khắc phục hậu quả, tháo dỡ công trình vi phạm. Trong trường hợp sử dụng đất sai mục đích thì con có thể bị thu hồi đất theo quy định pháp luật.

Nếu có tranh chấp liên quan đến số tiền mua đất của các hộ dân giữa nhà chùa và sư Toàn hoặc giữa tổ chức, cá nhân nào đó với sư Toàn thì sẽ được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Vị sư này có được số tiền đó có thể là do tổ chức, cá nhân biếu, tặng riêng hoặc do lao động, sản xuất... mà có.

Trong trường hợp, không phải do tổ chức cá nhân tặng cho riêng, không phải có nguồn gốc từ thừa kế hợp pháp hay từ lao động, sản xuất hợp pháp mà tài sản có nguồn gốc từ nhà chùa, cho người dân cúng tiến để xây dựng chùa chiền, đưa vào hòm công đức, vào quỹ của nhà chùa nhưng sư Toàn tự ý lấy ra để mua đất đứng tên cá nhân thì số tiền mua đất này phải trả lại nhà chùa.