Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đội ngũ đảng viên đáp ứng yêu cầu công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới (kỳ I)

    Tạp Chí Xây Dựng Đảng
    187 liên quanGốc

    Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm, chú trọng xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Đảng coi đó là nội dung cốt lõi của công tác xây dựng Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: 'Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do có nhiều chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt'. Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và các nghị quyết của Đảng qua các nhiệm kỳ Đại hội đều khẳng định: 'Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên'; 'Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở'; 'đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam'… Thực tiễn cho thấy, nơi nào xây dựng được hệ thống tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao và đội ngũ đảng viên có chất lượng, tiền phong, gương mẫu thì tạo ra sức mạnh tổng hợp, đóng góp vào công tác xây dựng Đảng và thành tựu phát triển của đất nước. Tuy nhiên, hiện nay năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên còn có hạn chế, ảnh hưởng tới vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở… Để phát huy vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của tổ chức cơ sở đảng, đội ngũ đảng viên, cần khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, vướng mắc trong thực tiễn và có biện pháp cụ thể nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên sẽ được nhóm tác giả có lời giải trong bài viết 2 kỳ!

    Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để lãnh đạo đất nước giành thắng lợi trên mọi mặt trận.

    Kỳ I

    NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG

    Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá: “Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng đảng còn thấp, nhất là việc tổ chức thực hiện nghị quyết và khả năng phát hiện, đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo giải quyết những vấn đề phát sinh ở cơ sở”[1]. Do vậy, để xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ cần phải đánh giá đúng tình hình, chỉ rõ nguyên nhân, đề ra các nhiệm vụ, giải pháp để sớm khắc phục những hạn chế, yếu kém nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng ở cơ sở đáp ứng yêu cầu công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới.

    Cần hiểu đúng về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng

    Có thể hiểu năng lực lãnh đạo của Đảng là khả năng nhận thức, đánh giá, dự báo chính xác tình hình và xác định nhiệm vụ chiến lược, sách lược đúng đắn, hợp quy luật khách quan và năng lực lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đã đặt ra để cách mạng phát triển. Theo đó, năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng là khả năng nhận thức, dự báo đúng bối cảnh, tình hình, vận dụng sáng tạo, linh hoạt chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và của cấp ủy cấp trên để đề ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng và xác định đúng nhiệm vụ, giải pháp tổ chức thực hiện để lãnh đạo chính quyền, các đoàn thể và nhân dân thực hiện thắng lợi mọi chủ trương, nhiệm vụ chính trị đã đề ra với chất lượng cao nhất.

    Sức chiến đấu của Đảng là khả năng giữ vững vai trò lãnh đạo trước mọi diễn biến của hiện thực xã hội, là khả năng “miễn dịch” và đấu tranh triệt để với những biểu hiện tiêu cực, với âm mưu và thủ đoạn chống phá của kẻ thù; là sức mạnh và ý chí vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành nhiệm vụ; là khả năng tự khắc phục hạn chế, khuyết điểm trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, tự phê bình và phê bình, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự tiên phong, gương mẫu, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

    Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là hai mặt của một vấn đề, là hai thành tố gắn bó chặt chẽ, có mối quan hệ biện chứng với nhau trong một chỉnh thể thống nhất. Năng lực lãnh đạo tốt là điều kiện để sức chiến đấu được phát huy; sức chiến đấu càng cao, càng tạo cơ sở vững chắc để năng lực lãnh đạo được tăng cường và nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo.

    Nhìn thẳng vào năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng

    Tính đến 31-12-2021, toàn Đảng có 51.299 tổ chức cơ sở đảng (gồm 22.944 đảng bộ cơ sở, 28.355 chi bộ cơ sở). Cùng với quá trình phát triển đất nước, số lượng, mô hình tổ chức cơ sở đảng tiếp tục được sắp xếp, hoàn thiện, điều chỉnh về quy mô, hình thức tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động để phù hợp với yêu cầu mới. Trong những năm qua, việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, phát huy vai trò hạt nhân chính trị của tổ chức cơ sở đảng được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Đảng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành, triển khai nhiều chủ trương, nghị quyết để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Ban Chấp hành Trung ương khóa X ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW “về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”. Các cấp ủy, tổ chức đảng tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện. Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW, năm 2018, Bộ Chính trị chỉ đạo tổng kết, ban hành Kết luận số 38-KL/TW khẳng định những kết quả quan trọng đã đạt được; chỉ ra hạn chế, khuyết điểm trong công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng; xác định một số nhiệm vụ, giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng.

    Hơn 10 năm qua, việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, phát huy vai trò hạt nhân chính trị của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, trên cơ sở đó, Đảng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành, triển khai nhiều chủ trương, nghị quyết; các cấp ủy, tổ chức đảng tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện. Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

    Tổ chức cơ sở đảng từng bước được củng cố, kiện toàn, sắp xếp phù hợp; chức năng, nhiệm vụ được sửa đổi, bổ sung; tăng cường công tác lãnh đạo, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cấp ủy viên, bí thư cấp ủy cơ sở[2] được quan tâm. Trên cơ sở đó, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tinh thần tự phê bình và phê bình, chất lượng sinh hoạt, công tác đánh giá, xếp loại, kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật, chất lượng đảng viên…của nhiều cấp ủy, đảng bộ, chi bộ cơ sở được nâng lên, phát huy vai trò hạt nhân chính trị, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở.

    Tuy nhiên, hiện nay, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế, ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở. Một số tổ chức cơ sở đảng chậm đổi mới phương thức lãnh đạo; thực hiện chưa nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; chậm sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc; chất lượng sinh hoạt đảng, tinh thần tự phê bình và phê bình hạn chế; chưa giải quyết hiệu quả khó khăn, bức xúc của nhân dân; chưa phân công thường xuyên và kiểm tra kết quả thực hiện nhiệm vụ của đảng viên. Một số cấp ủy cơ sở chưa chủ động, kịp thời kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm; mất sức chiến đấu, để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, quản lý, kiểm tra, giám sát đảng viên của một số tổ chức cơ sở đảng còn buông lỏng, chưa nắm chắc tình hình tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đảng viên; công tác đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên còn hình thức, chạy theo thành tích. Việc xét, miễn công tác và sinh hoạt đảng còn lỏng lẻo; chưa thường xuyên, kiên quyết rà soát, sàng lọc, đưa đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng.

    Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng

    Một là, lựa chọn, quy hoạch, giới thiệu ứng cử, đề cử, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cấp ủy viên cơ sở, nhất là bí thư cấp ủy có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, thực sự tiền phong gương mẫu và luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Đồng thời, có trình độ, năng lực, có thể phấn đấu trên 90% bí thư, phó bí thư cấp ủy cơ sở có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên… Đây là lực lượng chủ chốt trong tổ chức triển khai đường lối, chủ trương, lãnh đạo xây dựng và ban hành các nghị quyết, kế hoạch thực hiện nhiệm vụ chính trị theo chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Đảng và sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên.

    Hai là, nâng cao nhận thức, hiểu biết của cấp ủy viên cơ sở, nhất là bí thư cấp ủy về chủ trương, đường lối của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy chế, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan để lãnh đạo cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Nâng cao khả năng dự báo bối cảnh, tình hình trong nước và quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức cơ sở đảng, đảng viên, làm cơ sở cho việc đề ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị, nghị quyết chuyên đề phù hợp và bảo đảm tính khả thi. Phát huy dân chủ, tập hợp trí tuệ, kinh nghiệm của cán bộ, đảng viên, nâng cao kỹ năng ra quyết định để mỗi chủ trương, nhiệm vụ chính trị, nghị quyết chuyên đề do cấp ủy đề ra bảo đảm đúng, trúng và phù hợp với tình hình thực tiễn. Không ngừng nâng cao kỹ năng lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện của cấp ủy và bí thư cấp ủy, bảo đảm các chủ trương, nhiệm vụ chính trị được thực hiện đạt kết quả cao nhất.

    Ba là, quán triệt, nhận thức sâu sắc về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của tổ chức cơ sở đảng theo quy định của Ban Bí thư Trung ương Đảng để xác định rõ quyền, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng và tổ chức tốt các mối quan hệ phối hợp công tác trong việc đề ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị, giải pháp lãnh đạo tổ chức thực hiện chủ trương, nhiệm vụ chính trị theo quy định của Đảng đạt hiệu quả cao nhất. Thường xuyên hoàn thiện quy chế làm việc của cấp ủy để xác định rõ chức trách, nhiệm vụ của tập thể, cá nhân, người đứng đầu cấp ủy trong lãnh đạo, chỉ đạo, trên cơ sở đó cụ thể hóa chức trách, nhiệm vụ của mỗi cá nhân trong triển khai thực hiện từng nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng.

    Bốn là, đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của cấp ủy đối với chính quyền, các tổ chức đoàn thể và cán bộ, đảng viên của tổ chức cơ sở đảng; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; tăng cường kiểm tra, giám sát; kịp thời sơ kết, tổng kết, khen thưởng, kỷ luật trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chủ trương, nhiệm vụ chính trị đã đề ra. Nâng cao năng lực cầm quyền của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy đối với chính quyền và các đoàn thể thuộc phạm vi lãnh đạo, chỉ đạo.

    Năm là, nâng cao nhận thức về vai trò, mục đích, ý nghĩa của tự phê bình và phê bình để mỗi cán bộ, đảng viên tự giác, thường xuyên, nghiêm chỉnh thực hiện vì chính lợi ích của mình và tổ chức đảng. Trong tự phê bình và phê bình, các cấp ủy phải làm cho đảng viên hiểu đó là trách nhiệm, quyền lợi của mỗi cán bộ, đảng viên và gắn với thực hiện Kết luận 21 của Kỳ họp lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) để góp phần rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Sau mỗi kỳ tự phê bình và phê bình, đảng viên tự mình và giúp nhau cùng phát huy ưu điểm, khắc phục, sửa chữa hạn chế, khuyết điểm để tiến bộ.

    Sáu là, phát huy vai trò nêu gương, tính tự giác, nâng cao trình độ, hiểu biết, năng lực của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là của cấp trên và người đứng đầu. Bí thư cấp ủy luôn gương mẫu, thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình, rèn luyện tác phong công tác khoa học, đạo đức, lối sống trong sáng. Cấp ủy viên được phân công phụ trách cơ sở phải bám sát tình hình, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và giải quyết bức xúc của nhân dân.

    Bảy là, các cấp ủy đảng, nhất là cấp ủy đảng và ủy ban kiểm tra cấp trên phải tăng cường kiểm tra, giám sát chuyên đề và thi hành kỷ luật đảng nghiêm minh về thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Trong công tác kiểm tra, giám sát vừa tập trung kiểm tra thường xuyên, đột xuất, vừa tiến hành kiểm tra chuyên đề việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng để chấn chỉnh, rút kinh nghiệm, thi hành kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm (nếu có).

    Mỗi cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng và mỗi tổ chức cơ sở đảng cần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của từng tổ chức cơ sở đảng để phát huy những ưu điểm, những mặt đã làm được và đề ra những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, khả thi nhằm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, đáp ứng yêu cầu của công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới.

    [1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập II, NXBCTQGST, H.2021, tr.189.

    [2] Nhiệm kỳ 2015-2020, số cấp ủy viên có trình độ chuyên môn trên đại học là 10,2%, đại học, cao đẳng là 68,8%, trung cấp 16,5%; về trình độ lý luận chính trị: cử nhân, cao cấp 24,1%, trung cấp 55,8%.

    (Còn nữa...)

    Phạm Mạnh KhơỉVụ trưởng Vụ Cơ sở đảng, đảng viên, Ban Tổ chức Trung ương

    Nguồn Xây Dựng Đảng: http://www.xaydungdang.org.vn/home/lyluan-thuctien-kinhnghiem/2022/16691/nang-cao-chat-luong-to-chuc-co-so-dang-doi-ngu-dang.aspx